Nhiệm vụ chủ yếu của kế hoạch 5 năm 2011 - 2015

Đăng ngày 31 - 01 - 2007
100%

1. Phát triển kinh tế
1.1. Phát triển các ngành kinh tế
- Phát triển nông, lâm, thuỷ sản
Phát triển toàn diện ngành nông nghiệp, tiến tới xây dựng nền nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp sạch theo hướng sản xuất hàng hoá, xây dựng các vùng chuyên canh gắn với công nghiệp chế biến, tăng nhanh giá trị thu nhập trên một đơn vị diện tích; từng bước hoàn thiện kết cấu hạ tầng phục vụ sản xuất nông nghiệp, chủ động ứng phó có hiệu quả với thiên tai. Tốc độ tăng trưởng nông, lâm, thuỷ sản đạt 3,5%/năm; giảm tỷ trọng nông, lâm, thuỷ sản trong GDP từ 24,1% năm 2010 xuống 14,4% năm 2015.
Ổn định diện tích cây lương thực đến năm 2015 khoảng 290 nghìn ha, trong đó diện tích lúa 235 nghìn ha; ngô 55 nghìn ha; sản lượng lương thực ổn định từ 1,6 triệu tấn trở lên, bảo đảm vững chắc an ninh lương thực. Tiếp tục thực hiện tốt Đề án xây dựng vùng thâm canh lúa năng suất, chất lượng, hiệu quả cao, đến năm 2015 đạt 75 nghìn ha. Chuyển đổi cơ cấu mùa vụ; tăng tỷ trọng lúa lai lên 64% năm 2015. Xây dựng các vùng chuyên canh rau an toàn.Mở rộng diện tích trồng cao su lên 25 nghìn ha; ổn định diện tích vùng nguyên liệu mía, sắn, thực hiện các biện pháp thâm canh, tăng năng suất và nâng cao chất lượng, đảm bảo nguyên liệu cho các nhà máy chế biến. Mở rộng sản xuất các loại cây có thị trường xuất khẩu như ớt, dưa, ngô bao tử...
Phát triển chăn nuôi cả về quy mô và chất lượng theo hướng chăn nuôi trang trại, công nghiệp, an toàn dich bệnh và môi trường, gắn với chế biến; nâng tỷ trọng chăn nuôi trong giá trị sản xuất nông nghiệp từ 24% năm 2010 lên 30% năm 2015. Đến năm 2015, đàn bò đạt khoảng 400 nghìn con, tỷ lệ bò lai trên 55%; đàn trâu 250 nghìn con; đàn lợn 1,4 triệu con, trong đó lợn hướng nạc chiếm 35%; đàn gia cầm 20 triệu con.
Phát triển lâm nghiệp theo hướng bảo vệ, phát triển và khai thác hợp lý tài nguyên rừng, bảo đảm chức năng phòng hộ, bảo vệ môi trường, đồng thời nâng mức đóng góp cho nền kinh tế. Mỗi năm khoanh nuôi tái sinh 20 - 30 nghìn ha, bảo vệ 530 nghìn ha rừng, trồng mới 17.000 ha; nâng độ che phủ rừng lên 52% vào năm 2015.
Phát triển thuỷ sản cả đánh bắt và nuôi trồng theo hướng nâng cao hiệu quả và bảo vệ môi trường, tạo nguồn nguyên liệu ổn định cho chế biến xuất khẩu. Phát triển mạnh nuôi trồng, đến năm 2015, diện tích nuôi trồng đạt trên 19.000 ha. Kết hợp giữa đầu tư tăng năng lực đánh bắt xa bờ với tổ chức khai thác hợp lý khu vực gần bờ, nâng sản lượng khai thác thuỷ sản lên 76.000 tấn vào năm 2015; giá trị sản xuất thuỷ sản bình quân tăng khoảng 8,5%/năm.
Tiến hành quy hoạch và triển khai xây dựng nông thôn mới theo kế hoạch; lồng ghép hợp lý các nguồn vốn và đẩy mạnh xã hội hoá để từng bước đầu tư đồng bộ kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn.
- Phát triển công nghiệp và xây dựng
Phát triển nhanh, vững chắc các ngành công nghiệp có vai trò nền tảng, tạo bước đột phá về tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Phấn đấu tốc độ tăng trưởng công nghiệp - xây dựng bình quân hàng năm đạt 22,3%; tỷ trọng công nghiệp - xây dựng trong GDP từ 41,4% năm 2010 tăng lên 49,7% năm 2015.
Tập trung phát triển các nghành công nghiệp cơ bản, công nghiệp công nghệ cao như: lọc hóa dầu (lọc dầu, polypropylen, sợi tổng hợp, chất dẻo, phân bón, chất tẩy rửa tổng hợp); cơ khí, chế tạo (sản xuất thép tấm, thép định hình, thép cao cấp, lắp ráp thiết bị nặng, phương tiện vận tải, thiết bị nâng dỡ, thiết bị cho công nghiệp VLXD và chế biến nông sản, thiết bị điện, điện lạnh, linh kiện điện tử, tin học), công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng, công nghiệp phụ trợ. Đồng thời, tiếp tục phát triển các ngành công nghiệp truyền thống, có tiềm năng về nguyên liệu và thị trường như: xi măng, sản xuất VLXD, thủy điện; các ngành sử dụng nhiều lao động như may mặc, da giày...; phát huy tối đa năng lực hiện có và đầu tư mở rộng các cơ sở chế biến nông, lâm, thuỷ sản. Quan tâm phát triển tiểu thủ công nghiệp và ngành nghề nông thôn.
Tạo điều kiện thuận lợi để sớm hoàn thành đưa vào hoạt động các dự án công nghiệp có quy mô lớn như: Nhà máy lọc hoá dầu Nghi Sơn; thép Pomido, thép Nghi Sơn, thép Cao Ngọc; nhiệt điện Nghi Sơn I và II; các nhà máy thuỷ điện Bá Thước I và II, Trung Sơn, Hồi Xuân; các nhà máy chế biến ferocrom, bicromat; xi măng Thanh Sơn, dây chuyền 2 xi măng Công Thanh... Xúc tiến đầu tư xây dựng các nhà máy bê tông asphan, bê tông tươi, bê tông đúc sẵn, sản xuất tấm lợp trong Khu kinh tế Nghi Sơn; các nhà máy chế biến rau quả, thực phẩm ở thị xã Bỉm Sơn, huyện Thạch Thành và một số huyện ven biển; các nhà máy chế biến thức ăn gia súc ở các huyện: Nông Cống, Triệu Sơn, Thiệu Hoá, Ngọc Lặc...; các nhà máy chế biến gỗ xuất khẩu, ván dăm, ván sợi, ván nhân tạo từ tre, luồng... gắn với phát triển các vùng nguyên liệu tập trung. Tiếp tục khôi phục và phát triển các làng nghề truyền thống, nhất là chiếu cóivà các sản phẩm từ cói, thêu ren, dệt lụa, dệt thổ cẩm, mây tre đan, đồ mỹ nghệ, đồ trang sức bằng đá.
- Phát triển các ngành dịch vụ
Phát triển nhanh, đa dạng và nâng cao chất lượng các loại dịch vụ nhằm tạo nhiều việc làm, đóng góp lớn vào tăng trưởng kinh tế của tỉnh. Phấn đấu tốc độ tăng trưởng dịch vụ bình quân hàng năm đạt 16,8%, nâng tỷ trọng dịch vụ trong GDP năm 2015 lên 35,9%. Giá trị xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ đạt 850 triệu USD trở lên, tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm đạt 17,7%.
1.2. Phát triển các vùng lãnh thổ
 - Vùng đồng bằng: xây dựng các vùng chuyên canh cây lương thực, cây công nghiệp, cây thực phẩm và vùng chăn nuôi tập trung; phát triển các ngành công nghiệp lắp ráp ô tô, xi măng, công nghiệp nhẹ, công nghiệp chế biến, điện tử tin học, công nghiệp sử dụng nhiều lao động, tiểu thủ công nghiệp, ngành nghề nông thôn, từng bước phát triển các ngành công nghiệp công nghệ cao; phát triển dịch vụ thương mại, tài chính, ngân hàng, vận tải, bưu chính, viễn thông.
- Vùng ven biển: phát triển mạnh kinh tế biển gắn với bảo đảm quốc phòng, an ninh; xây dựng các vùng chuyên canh lúa, cói, lạc, đậu tương, rau đậu, hoa, cây cảnh; nâng cao hiệu quả nghề muối, bảo đảm đời sống cho diêm dân; phát triển chăn nuôi và thủy sản theo hướng trang trại và công nghiệp, gắn với chế biến; đẩy mạnh phát triển công nghiệp lọc hoá dầu và sau lọc hóa dầu, xi măng, nhiệt điện, luyện thép, chế biến nông, thuỷ sản; khai thác thế mạnh của các đảo, bờ biển, vùng nước ven biển để phát triển mạnh dịch vụ cảng, vận tải biển, dịch vụ hàng hải, du lịch biển, dịch vụ hậu cần nghề cá, dịch vụ xuất nhập khẩu; phát triển mạnh các ngành thương mại, tài chính, ngân hàng.
- Vùng trung du miền núi: tập trung bảo vệ, khoanh nuôi tái sinh rừng hiện có; đẩy mạnh phát triển rừng sản xuất theo hướng thâm canh, nâng cao chất lượng các vùng nguyên liệu luồng, gỗ, mây, cao su, mía, sắn, dứa và các vùng chăn nuôi tập trung, nhất là chăn nuôi bò thịt chất lượng cao gắn với chế biến; phát triển công nghiệp chế biến khoáng sản, sản xuất VLXD, thủy điện, chế biến nông, lâm sản; xây dựng một số cụm công nghiệp làng nghề gắn với bố trí lại dân cư và các điểm đô thị mới dọc theo tuyến đường Hồ Chí Minh; phát triển kinh tế cửa khẩu; khai thác tiềm năng, lợi thế rừng quốc gia Bến En, các khu bảo tồn thiên nhiên, hồ Yên Mỹ, hồ Cửa Đặt, suối cá Cẩm Lương để phát triển du lịch.
- Phát triển đô thị theo hướng văn minh, bền vững. Mở rộng thành phố Thanh Hoá về phía đông và đông nam, nâng cấp hệ thống kết cấu hạ tầng, chỉnh trang đô thị, đảm bảo đạt tiêu chuẩn đô thị loại I trước năm 2015. Nâng cấp các thị xã Sầm Sơn, Bỉm Sơn lên đô thị loại III trước năm 2015. Đẩy nhanh tiến độ xây dựng đô thị Ngọc Lặc, tạo động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội khu vực trung du, miền núi phía tây của tỉnh. Xúc tiến nhanh việc hình thành các đô thị Lam Sơn - Sao Vàng, Đồng Tâm, Thạch Quảng, Bãi Trành, Còng. Quy hoạch xây dựng các đô thị nghề cá ở các huyện ven biển. Tại các đô thị, ưu tiên phát triển công nghiệp sạch, công nghệ cao; phát triển mạnh các loại hình dịch vụ, nhất là thương mại, tài chính, ngân hàng, y tế, giáo dục đào tạo, khoa học công nghệ; hình thành các vành đai rau xanh, các vùng trồng hoa, cây cảnh ở khu vực ngoại các đô thị lớn.  
2. Phát triển kết cấu hạ tầng
2.1. Phát triển kết cấu hạ tầng giao thông
- Đường bộ: tập trung xây dựng, nâng cấp các tuyến giao thông chính, nối các vùng, các huyện trong tỉnh và kết nối với các trung tâm kinh tế trọng điểm của cả nước. Xây dựng đồng bộ hệ thống giao thông ở các vùng trọng điểm: Khu kinh tế Nghi Sơn, thành phố Thanh Hoá, thị xã Sầm Sơn, Bỉm Sơn và đô thị Ngọc Lặc.
+ Quốc lộ: hoàn thành đầu tư nâng cấp, mở rộng các quốc lộ: 1A, 47, 45, 10, 15A, 217; xây dựng cầu Thắm, cầu Bút Sơn bảo đảm các tuyến quốc lộ không còn điểm vượt sông bằng phà; nâng cấp các cầu yếu trên các tuyến quốc lộ; đường ven biển đoạn qua Thanh Hoá. Nâng cấp một số đường tỉnh lên quốc lộ như: đường Hồi Xuân - Tén Tằn, đường Cành Nàng - Phú Lệ; kéo dài quốc lộ 10 đến Ghép, quốc lộ 47 đến cửa khẩu Khẹo, quốc lộ 45 nối quốc lộ 48 của Nghệ An; tạo điều kiện để đẩy nhanh tiến độ triển khai xây dựng đường bộ cao tốc qua địa bàn tỉnh.
+ Đường tỉnh: cải tạo, nâng cấp đồng bộ, hiện đại các tuyến đường tỉnh; hoàn thành đại lộ Nam sông Mã, đường ngã Ba Voi đi Sầm Sơn, đại lộ Lê Lợi kéo dài, đường vành đai phía tây thành phố; hoàn thành một số cầu vượt sông lớn trước năm 2015 như: cầu Đò Đại (Hoằng Hoá), cầu Yên Hoành (Yên Định - Vĩnh Lộc), cầu Thiệu Khánh (Thiệu Hoá), cầu Hoằng Khánh (Hoằng Hoá - Thiệu Hoá), cầu Cẩm Vân, cầu Cẩm Lương (Cẩm Thuỷ), cầu Bến Kẹm (Bá Thước), cầu Nam Tiến (Quan Hoá), cầu Lát (Mường Lát), cầu Kim Tân (Thạch Thành)... và hệ thống cầu treo ở các huyện miền núi. Triển khai xây dựng mới các tuyến đường: Thạch Quảng - Bỉm Sơn; Bỉm Sơn - Nga Sơn - đảo Nẹ; các đường ngang nối quốc lộ 217 với quốc lộ 45 và quốc lộ 47; đường nối quốc lộ 217 với quốc lộ 10...
 + Đường giao thông nông thôn: hoàn thành 100% các tuyến đường đến trung tâm các xã chưa có đường ô tô; cải tạo, nâng cấp hệ thống đường giao thông nông thôn, phấn đấu đến năm 2015, 100% các tuyến đường xã đạt tiêu chuẩn đường giao thông nông thôn loại A, 100% đường huyện, 70% đường xã được nhựa hóa hoặc bê tông hóa.  
- Đường sắt: phối hợp với các Bộ, ngành Trung ương để nâng cấp hệ thống đường sắt; xúc tiến triển khai xây dựng đường sắt cao tốc qua địa bàn tỉnh.
- Đường không: đẩy nhanh tiến độ chuẩn bị để sớm khởi công xây dựng sân bay dân dụng tại xã Hải Ninh, huyện Tĩnh Gia trước năm 2015.
- Đường thuỷ: tập trung đầu tư xây dựng cảng tổng hợp, cảng chuyên dùng để sớm hoàn chỉnh cụm cảng nước sâu Nghi Sơn; đến năm 2013 hoàn thành cảng phục vụ Nhà máy lọc hóa dầu; trong 5 năm tới, xây dựng thêm 16 bến cảng, trong đó có 2 bến container, nâng công suất xếp dỡ lên 23 triệu tấn/năm. Nâng cấp, mở rộng cảng Lễ Môn, cảng Lạch Hới, cảng du lịch Hàm Rồng; triển khai xây dựng cảng Quảng Châu; nghiên cứu đầu tư xây dựng cảng Nẹ, cảng trung chuyển nước sâu tại đảo Mê; nạo vét hệ thống sông, kênh và hoàn thiện phao tiêu, biển báo, tạo điều kiện thuận lợi phát triển vận tải thủy.
2.2. Phát triển hạ tầng thuỷ lợi - thuỷ sản
Đẩy nhanh tiến độ đầu tư xây dựng, hoàn thành kênh Bắc hồ Cửa Đặt, đập Lèn, nâng cấp hệ thống tưới Hoàng Khánh, hệ thống tưới huyện Tĩnh Gia; đầu tư hệ thống tiêu Đông Thiệu Thị, trục tiêu kênh Than, các trạm bơm tiêu thuộc hệ thống bắc sông Chu - nam sông Mã, Bắc Long Giang, đông nam Nông Cống, Phong Châu Lưu, vùng sông Hoàng, sông Nhơm trước năm 2015; hoàn thành dự án phân lũ, chậm lũ huyện Thạch Thành trước năm 2013; xây dựng và triển khai phương án cấp nước ngọt cho các huyện: Nga Sơn, Hậu Lộc, Hà Trung và Hoằng Hóa. Đầu tư hoàn thành hệ thống đê biển, đê cửa sông trước năm 2015; tiếp tục đầu tư xây dựng hệ thống đê sông, nhất là các tuyến đê sông Mã, sông Chu, sông Cầu Chày.
Xây dựng hoàn chỉnh các cảng cá, bến cá và khu tránh trú bão cho tàu thuyền nghề cá ở Lạch Bạng, Lạch Hới, Lạch Trường, Hòa Lộc gắn với việc hình thành các đô thị nghề cá; quan tâm đầu tư xây dựng hạ tầng nghề muối.
2.3. Phát triển mạng lưới cấp điện
Đầu tư xây dựng, nâng cấp hệ thống truyền tải và phân phối điện, đảm bảo cung cấp điện ổn định với chất lượng cao, giảm sự cố và tổn thất điện năng, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội. Xây dựng trạm biến áp 220 KV Bỉm Sơn, nâng công suất các trạm biến áp 220 KV Thanh Hóa, 220 KV Nghi Sơn; cải tạo đường dây 110 KV Bỉm Sơn - Núi Một - Ba Chè; xây dựng đường điện để phát dẫn cho Nhà máy nhiệt điện Nghi Sơn và các nhà máy thuỷ điện; cải tạo, mở rộng lưới điện đến khu kinh tế, các KCN, cụm công nghiệp, làng nghề; cải tạo, nâng cấp lưới điện thành phố và các thị xã; khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư cải tạo, nâng cấp lưới điện nông thôn; chú trọng đầu tư các công trình thuỷ điện nhỏ và mạng lưới cấp điện cho vùng cao, vùng sâu, vùng xa, bảo đảm trước năm 2015, 100% dân số được dùng điện với sản lượng điện sử dụng khoảng 5 - 6 tỷ KWh.
2.4. Phát triển hạ tầng cấp thoát nước
Xây dựng đồng bộ hệ thống cấp thoát nước cho thành phố Thanh Hoá, các thị xã, khu kinh tế và khu công nghiệp lớn; nâng cấp, mở rộng và xây dựng mới hệ thống cấp nước cho các thị trấn, các khu dân cư tập trung. Ưu tiên xây dựng các nhà máy nước cho thành phố Thanh Hoá, thị xã Bỉm Sơn, Sầm Sơn, Khu kinh tế Nghi Sơn và trung tâm các huyện lỵ, đảm bảo 100% dân số đô thị được sử dụng nước sạch và 95% dân số nông thôn được sử dụng nước hợp vệ sinh năm 2015.
Xây dựng đồng bộ hệ thống thoát nước và công trình thu gom, xử lý nước thải cho thành phố và các thị xã, thị trấn, khu công nghiệp, khu kinh tế. Đối với các khu công nghiệp tập trung, xây dựng hệ thống thoát nước thải và các trạm xử lý riêng cho từng khu, đảm bảo 100% nước thải được xử lý đạt tiêu chuẩn trước khi thải ra môi trường. 100% bệnh viện tuyến tỉnh, tuyến huyện có hệ thống xử lý chất thải bảo đảm môi trường.
2.5. Phát triển hạ tầng thông tin, truyền thông
Phát triển hạ tầng thông tin, truyền thông với công nghệ hiện đại, có độ bao phủ rộng với thông lượng lớn, có tốc độ và chất lượng cao. Thực hiện lộ trình ngầm hoá các tuyến cáp, đến năm 2015, phấn đấu ngầm hoá từ 70 - 80% cáp viễn thông, phát thanh, truyền hình ở thành phố Thanh Hoá và các thị xã.  
Đến năm 2015, 100% số xã được cung cấp dịch vụ điện thoại cố định hữu tuyến và thuê bao internet băng thông rộng; mật độ thuê bao internet băng thông rộng đạt 3,7 máy/100 dân; 70% số xã có điểm truy cập internet công cộng; 100% số cơ quan nhà nước chỉ đạo điều hành, quản lý hồ sơ, văn bản trên môi trường mạng; 100% dịch vụ hành chính công được đưa lên cổng thông tin điện tử.
3. Các lĩnh vực văn hoá - xã hội
- Khoa học công nghệ
Phát triển tiềm lực khoa học công nghệ để tiếp thu, làm chủ và ứng dụng có hiệu quả tiến bộ khoa học công nghệ vào sản xuất và đời sống. Đẩy mạnh chuyển giao, ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ trong sản xuất nông, lâm, thuỷ sản, chăm sóc sức khoẻ và bảo vệ môi trường; đổi mới công nghệ - thiết bị, xây dựng thương hiệu, áp dụng các hệ thống quản lý chất lượng tiên tiến. Thúc đẩy hình thành lực lượng doanh nghiệp khoa học công nghệ. Nghiên cứu để cung cấp kịp thời các luận cứ khoa học cho việc đề ra các chủ trương, chính sách phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.
- Giáo dục và đào tạo
Phát triển giáo dục toàn diện theo hướng chuẩn hoá, xã hội hoá và từng bước hiện đại hoá, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục và giáo viên. Đến năm 2015, 100% giáo viên đạt chuẩn, trong đó 30 - 35% trên chuẩn. Duy trì kết quả phổ cập THCS, phổ cập THPT ở các vùng có điều kiện. Đến năm 2012, hoàn thành phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi. Tiếp tục đổi mới nội dung, chương trình giáo dục phổ thông, nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, chất lượng giáo dục mũi nhọn; đưa tiếng Anh vào dạy từ bậc tiểu học; khắc phục chênh lệch chất lượng giáo dục giữa các vùng miền. Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất phục vụ dạy và học, hoàn thành chương trình kiên cố hoá trường, lớp học vào năm 2012; đẩy mạnh xây dựng trường chuẩn quốc gia gắn với việc quy hoạch lại mạng lưới trường lớp, đến năm 2015 có 47,8% số trường đạt chuẩn quốc gia. Xây dựng Trường THPT chuyên Lam Sơn thành trường chuyên trọng điểm quốc gia.
Đẩy mạnh và nâng cao chất lượng đào tạo, dạy nghề theo nhu cầu xã hội. Lựa chọn, tập trung đầu tư một số khoa, chuyên ngành của Trường Đại học Hồng Đức đạt chất lượng cao; thành lập các trường đại học: y - dược, văn hoá - nghệ thuật và thể dục - thể thao; rà soát, bổ sung, điều chỉnh mạng lưới cơ sở dạy nghề, đáp ứng nhu cầu của các doanh nghiệp và xuất khẩu lao động; nâng cấp, mở rộng các cơ sở đào tạo hiện có, xây dựng các cơ sở mới như: Trường cao đẳng nghề Nghi Sơn, Trường công nhân kỹ thuật đào tạo lao động xuất khẩu...; đẩy nhanh tiến độ đầu tư các trung tâm dạy nghề, trung tâm giáo dục thường xuyên cấp huyện. Phấn đấu đến năm 2015, tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 55% trở lên.
- Y tế, dân số - kế hoạch hoá gia đình và trẻ em
Phát triển sự nghiệp y tế, chăm sóc sức khoẻ cộng đồng theo hướng dự phòng tích cực và chủ động; bảo đảm mọi người dân được khám, chữa bệnh ban đầu và cung cấp các dịch vụ y tế cơ bản; đến năm 2015, tỷ lệ trạm y tế xã có bác sỹ đạt 80%, tỷ lệ giường bệnh đạt 25,5 giường/vạn dân.
Nâng cấp, mở rộng Bệnh viện đa khoa tỉnh quy mô 1.200 giường bệnh, các bệnh viện chuyên khoa và hoàn thành đầu tư các bệnh viện đa khoa tuyến huyện, trong đó Bệnh viện đa khoa Ngọc Lặc, Hà Trung và Tĩnh Gia có đủ năng lực thực hiện một số kỹ thuật chuyên khoa sâu; hoàn thành xây dựng Bệnh viện nhi, Bệnh viện phụ sản quy mô 500 giường. Hoàn thành nâng cấp Trung tâm y tế dự phòng, Trung tâm phòng chống HIV/AIDS và Chi cục vệ sinh ATTP tỉnh trước năm 2015. Toàn bộ trung tâm y tế và dân số huyện được đầu tư trụ sở làm việc và trang thiết bị tối thiểu theo quy định. Đến năm 2015, 100% số bệnh viện tuyến tỉnh, tuyến huyện có hệ thống xử lý nước thải; 70% số trạm y tế xã được kiên cố hoá. Tạo điều kiện đẩy nhanh tiến độ, hoàn thành đi vào hoạt động các bệnh viện tư nhân.
Thực hiện tốt công tác tuyên truyền, giáo dục về dân số - kế hoạch hoá gia đình, tăng cường đầu tư thực hiện các biện pháp kế hoạch hoá gia đình, bảo vệ sức khoẻ bà mẹ và trẻ em. Duy trì tỷ lệ sinh tự nhiên khoảng 6,5%o/năm; tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng giảm xuống 20%.
- Các hoạt động văn hóa, thể dục thể thao, phát thanh - truyền hình
Tiếp tục thực hiện cuộc vận động “toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá”, đến năm 2015, có 83% số gia đình đạt tiêu chuẩn gia đình văn hoá; 61% số làng, bản, cơ quan được công nhận là đơn vị văn hoá; 25% số xã, phường đạt tiêu chuẩn xã, phường văn hoá. Tiến hành trùng tu, tôn tạo các di tích trọng điểm; sớm hoàn thành dự án Chính điện Lam Kinh, tượng đài Bà Triệu; xây dựng Tượng đài Hàm Rồng chiến thắng, Đền thờ các anh hùng liệt sỹ và Bà mẹ Việt Nam anh hùng, Nhà hát Lam Sơn, Trung tâm hội chợ triển lãm, Bảo tàng, Thư viện tỉnh; hoàn thành quy hoạch tổng thể và chi tiết Thành Nhà Hồ; hoàn thành hồ sơ khoa học di tích Lam Kinh, Thành Nhà Hồ trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt là di tích đặc biệt quốc gia; hoàn thành hồ sơ khoa học hang Con Moong trình UNESCO công nhận di sản văn hoá thế giới.
Đẩy mạnh phong trào thể dục thể thao quần chúng để đến năm 2015 có 36% dân số luyện tập thể dục thể thao thường xuyên, 26% hộ gia đình đạt tiêu chuẩn gia đình thể thao. Hoàn thành xây dựng Sân vận động trung tâm, một số hạng mục thuộc Khu liên hợp thể thao của tỉnh; hoàn thành 60% số trung tâm văn hoá thể thao cấp huyện vào năm 2015.
Nâng cao chất lượng và thời lượng phát sóng phát thanh, truyền hình, tỷ lệ phủ sóng phát thanh đạt 100% và truyền hình đạt 99% vào năm 2015.
- Lao động, việc làm và xoá đói giảm nghèo
Hàng năm giải quyết việc làm cho khoảng 60 nghìn lao động, trong đó có 12 nghìn người đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài; đến năm 2015, giảm tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị xuống 3,6%, nâng tỷ lệ sử dụng thời gian lao động ở nông thôn lên 88%. Lồng ghép có hiệu quả chương trình xoá đói giảm nghèo với các chương trình, dự án khác; phấn đấu giảm tỷ lệ hộ nghèo mỗi năm từ 3 - 4%. Thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội và chính sách đối với thương binh, gia đình liệt sĩ, người có công và các đối tượng xã hội khác. Hoàn thành Trung tâm giáo dục LĐXH Nông Cống và xây dựng Trung tâm giáo dục LĐXH Quan Hoá.
- Tài nguyên, môi trường
Xây dựng và triển khai thực hiện Quy hoạch tổng thể bảo vệ môi trường đến năm 2020; tập trung giải quyết ô nhiễm môi trường ở các nhà máy, khu công nghiệp, trang trại chăn nuôi, các cơ sở y tế. Đẩy mạnh xã hội hoá lĩnh vực bảo vệ môi trường.
Triển khai thực hiện các quy hoạch thăm dò, khai thác, chế biến khoáng sản; hoàn thành quy hoạch quản lý, sử dụng, bảo vệ tài nguyên nước; quy hoạch sử dụng đất giai đoạn 2011 - 2020, quy hoạch đất lúa đến năm 2020 định hướng đến năm 2030. Hoàn thành đo vẽ bản đồ, lập hồ sơ địa chính và xây dựng cơ sở dữ liệu quản lý đất đai toàn tỉnh; đo vẽ bản đồ, lập hồ sơ địa chính đất lâm nghiệp và đất các nông, lâm trường trên địa bàn tỉnh.
4. Quốc phòng - an ninh
Xây dựng lực lượng vũ trang vững mạnh, nền quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân ngày càng vững chắc, chủ động phòng ngừa, đấu tranh với thủ đoạn của các thế lực thù địch và các loại tội phạm, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, không để xảy ra tình huống bất ngờ hoặc các điểm nóng.
Kết hợp chặt chẽ giữa bảo đảm quốc phòng, an ninh với phát triển kinh tế - xã hội, phòng chống thiên tai, dịch bệnh; xây dựng các khu kinh tế - quốc phòng ở vùng biên giới với nước bạn Lào. Kiềm chế, tiến tới giảm tội phạm, tệ nạn xã hội và tai nạn giao thông. Đấu tranh, xử lý có hiệu quả tội phạm tham nhũng, ma tuý và tệ nạn xã hội.
Tăng cường tiếp dân, giải quyết khiếu nại tố cáo; giải quyết kịp thời mâu thuẫn phát sinh từ cơ sở, không để xảy ra khiếu kiện đông người, nhất là ở các địa bàn phức tạp, có nhiều đồng bào tôn giáo, các khu công nghiệp, khu kinh tế.

<

Tin mới nhất

Nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2020(10/03/2010 6:58 CH)

Nhiệm vụ chủ yếu của kế hoạch 5 năm 2011 - 2015(31/01/2007 8:58 CH)

Chỉ đạo điều hành

Công khai gửi nhận văn bản

°