Nhìn lại các Chương trình, Dự án đầu tư cho vùng dân tộc miền núi

Bức tranh tổng thể vùng miền núi phía tây của tỉnh Thanh Hóa ngày càng thêm nhiều sắc mầu rực rỡ. Có nhiều cách đánh giá khác nhau về sự phát triển đáng mừng của các huyện miền núi trong những thập kỷ thực hiện công cuộc đổi mới đất nước vừa qua. Có thể là những phép cộng về thành tựu sau mỗi chặng đường phấn đấu và đạt được; hoặc đánh giá theo lát cắt ngang trong mỗi thời điểm thời gian cụ thể. Nhìn lại các Chương trình dự án đầu tư cho vùng dân tộc miền núi - những cái được và chưa được trong những năm gần đây cũng là một trong những góc nhìn cùng quan tâm chung mà bài viết này đề cập.
Đó là những chính sách lớn, chương trình lớn đặc thù tập trung cho phát triển KTXH và XĐGN vùng miền núi như: Chương trình 135 về phát triển KTXH các xã, thôn bản ĐBKK vùng sâu vùng xa; chương trình 134 về hỗ trợ 04 chính sách có tính thiết thực về: đất ở, đất sản xuất, nhà ở và nước sinh hoạt đối với  hộ đồng bào DTTS nghèo; Chương trình 30a với nhiều chính sách tổng hòa về giảm nghèo nhanh bền vững cho các huyện có tỷ lệ hộ nghèo trên 50%; Chính sách hỗ trợ trực tiếp cho từng người dân vùng khó theo Quyết định 102/QĐ-TTg; chính sách hỗ trợ di dân định canh định cư theo Quyết định 33/2007/QĐ-TTg và Quyết định 1342/QĐ-TTg; năm 2012 này tiếp tục thực hiện Dự án hỗ trợ đầu tư cơ sở hạ tầng các xã ĐBKK, xã biên giới, xã an toàn khu, các thôn bản ĐBKK thuộc Chương trình mục tiêu Quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2012-2015.
Dưới tác động nhiều mặt của các chính sách dân tộc nói chung, các chương trình dự án cụ thể nói riêng đã và đang làm cho bộ mặt miền núi tỉnh Thanh thay da đổi thịt từng ngày. Nhìn lại kết quả triển khai các chính sách nói chung (kể cả của Trung ương và của tỉnh), và các chương trình dự án cho thấy: Vốn đầu tư cho miền núi giai đoạn 2006-2010 khoảng 19.000 tỷ đồng, gấp 5,5 lần so với giai đoạn 2001-2005. Riêng chương trình 135 giai đoạn 2006-2010 đã đầu tư 832 công trình các loại với tổng nguồn vốn 876,05 tỷ đồng. Bình quân mỗi xã nghèo có thêm 5- 6 công trình thiết yếu: Giao thông, thủy lợi nhỏ, điện sinh hoạt…Chương trình 30a cũng đã đầu tư 86 công trình CSHT liên xã, liên huyện với dự toán vốn đã duyệt gần 1.000 tỷ đồng. Đến nay, trên địa bàn 11 huyện miền núi có 195/196 xã có đường ôtô đến trung tâm; 1.526 thôn bản có đường ô tô đến trung tâm bản; 99,5% số xã có điện lưới quốc gia; 81,5% có phòng học kiên cố; 99% số xã có trạm y tế; 100% số xã có điện thoại. Tỷ lệ hộ nghèo 11 huyện miền núi giảm từ 53,38% năm 2005 xuống 42,73% năm 2006 (theo tiêu chí cũ) và xuống 34,23% vào đầu năm 2012 (theo tiêu chí mới). B×nh qu©n gi¶m nghÌo hµng n¨m trên 4,0%. Nếu tính riêng 93 xã ĐBKK thuộc chương trình 135 thì tỷ lệ hộ nghèo giảm nhanh từ 67% năm 2006 xuống 44,7% năm 2010; trong 5 năm giảm 22,3% ; Đối với 7 huyện thuộc chương trình 30a; năm 2011tỷ lệ hộ nghèo giảm được 6,47% (từ 50,67 xuống còn 44,20) đạt và vượt mục tiêu đề ra.Đời sống nhân dân được cải thiện thu nhập bình quân đầu người đạt gần 8 triệu đồng, lương thực bình quân đầu người đạt gần 370 kg/năm. Trình độ dân trí, giá trị bản sắc văn hoá các dân tộc được giữ gìn, phát huy, đời sống văn hoá tinh thần của nhân dân được nâng cao. 100% các xã vùng miền núi phổ cập trung học phổ thông; Phong trào toàn dân đoàn kết, xây dựng đời sống văn hoá ở cơ sở đã được triển khai rộng khắp. Các hoạt động văn hoá thông tin, thể dục thể thao vùng dân tộc thiểu số được khơi dậy. Công tác chăm sóc sức khỏe cho đồng bào được quan tâm; 63,8% số xã có Bác sỹ; số xã có trạm y tế đạt chuẩn quốc gia gấp 2 lần so với năm 2005. Tình hình chính trị, và an ninh quốc phòng luôn ổn định và giữ vững. Những  con số nêu trên tuy chưa phải là tất cả nhưng đã phần nào khẳng định những hiệu quả đích thực từ các chương trình dự án, những chính sách  ưu tiên đặc thù của Đảng và Nhà nước đầu tư hỗ trợ cho vùng dân tộc miền núi nói chung.
 Tuy nhiên, ở góc nhìn khác của quá trình trình khai tổ chức thực thi các chính sách và một số chương trình dự án lớn cũng đã bộc lộ không ít những khó khăn và tồn tại bất cập cần phải quan tâm. Đó là những vấn đề có tính thực tiễn về: Cơ chế quản lý, vận hành các chương trình dự án; về nguồn vốn các chính sách luôn trong tình trạng dàn trải thiếu tập trung; về công tác phối hợp chỉ đạo chưa đồng bộ và chặt chẽ; về đối tượng thụ hưởng chính sách chưa phát huy hết tính chủ động vv...  trong số những hạn chế bất cập trên đây vấn đề vốn và cơ chế vận hành luôn đặt ra bức xúc trong thực tế ở cơ sở. Cụ thể: chương trình 135 mức vốn hỗ trợ theo kế hoạch hàng năm còn hạn hẹp từ 400 triệu đồng /xã/năm (Giai đoạn 1999-2001) và có điều chỉnh tăng dần đến 1.000 triệu đồng/xã/ vào các năm 2009 và 2010. Đối với nhu cầu giảm nghèo và phát triển của một xã vùng ĐBKK thì mức hỗ trợ đầu tư này quả là rất khiêm tốn; mặt khác, đây là một chương trình đặc thù vừa làm vừa điều chỉnh, nên cần được áp dụng một cơ chế thông thoáng đơn giản dễ làm là điều cần rất thiết. Song quá trình triển khai thực hiện, nhất là ở cơ sở các xã và thôn bản thường gặp không ít khó khăn. Đó là việc chậm ban hành các văn bản hướng dẫn của Trung ương và của tỉnh; có văn bản rồi lại vướng về sự chưa thống nhất giữa các ngành các cấp. Ví như: Hợp phần hỗ trợ phát triển sản xuất chương trình 135 chưa phát huy được hiệu quả như mong muốn; phần do vốn hỗ trợ quá ít (Từ 120 triệu đến nhiều nhất 300 triệu đồng/ xã/ năm); phần do nhiều văn bản (Thông tư Liên bộ, Thông tư của Bộ Nông nghiệp và PTNT, Hướng dẫn của sở NN&PTNT tỉnh...) việc qui định nhóm hộ về hưởng chính sách để giảm nghèo trong khi kinh phí không nhiều, lại nhiều thủ tục chặt chẽ nên khó thực hiện ; đồng nghĩa với việc tiến độ kế hoạch chậm kéo dài hiệu quả thấp.
Chương trình 30a đối với 7/11 huyện của tỉnh được triển khai từ năm 2009 đến nay, theo nghị quyết của Chính phủ thì có đến gần 70 danh mục chính sách cụ thể trong 12 nhóm chính sách. Đề án phát triển kinh tế - xã hội giảm nghèo nhanh và bền vững của 7 huyện đã được các bộ, ngành trung ương thẩm định và Chủ tịch UBND tỉnh phê duyệt bình quân hơn 3.000 tỷ đồng/huyện; thời gian thực hiện 10 năm, mỗi năm cần hỗ trợ 300 tỷ đồng/huyện mới đáp ứng được nhu cầu. Trong thực tế cho thấy kế hoạch vốn hàng năm cho các huyện mới đáp ứng khoảng 20-25% so với nhu cầu theo đề án được duyệt. Do đó, nhiều chính sách chưa được thực hiện; có những chính sách, hoặc công trình khi triển khai chỉ được giao một phần vốn để làm căn cứ khởi công. Theo đó, kế hoạch vốn năm 2011 và năm 2012 này chủ yếu giành cho thanh toán khối lượng chuyển tiếp từ năm 2009 và 2010.  Văn bản hướng dẫn thực hiện Nghị quyết 30a ban hành chậm, thiếu đồng bộ; một số văn bản hướng dẫn chưa rõ ràng, cụ thể, do đó khi triển khai thực hiện gặp rất nhiều khó khăn không triển khai được như : Chính sách giáo dục, y tế; hoặc còn những bất cập như: Các chính sách về  hỗ trợ sản xuất, hỗ trợ lương thực, hỗ trợ giống cây trồng và vật nuôi... trực tiếp cho hộ nghèo, cho người nghèo khó triển khai vì chồng chéo hoặc cơ chế phối hợp không được thực hiện. Trình độ năng lực của cán bộ cơ sở còn nhiều hạn chế; chủ yếu làm kiêm nhiệm. Ban chỉ đạo các cấp không có cán bộ chuyên trách theo dõi việc thực hiện Nghị quyết 30a. Một trong những liên quan trực tiếp thực thực trạng này là việc lựa chọn danh mục công trình và mục tiêu đầu tư hàng năm của một số Huyện chưa phù hợp thường là qui mô vốn lớn (ít nhất 3 tỷ đến 57 tỷ/ công trình), hoặc những công việc không có tính bức xúc dẫn đến việc chậm phát huy hiệu quả, hoặc chậm trễ trong tiến độ kế hoạch. Theo đó, là những vấn đề thường gặp ở các huyện 30a như: Tiến độ thi công các công trình đang còn chậm, công tác giám sát chất lượng công trình của chủ đầu tư còn hình thức và chưa bám sát công trình. Nếu các chủ đầu tư làm tốt việc lựa chọn “mục tiêu” hợp lý để sớm hoàn thành công trình và phát huy hiệu quả ngay thì tính thiết thực của nghị quyết được tăng thêm nhiều.
Tóm lại, thời gian qua chính sách và chương trình dự án hỗ trợ đầu tư phát triển cho vùng dân tộc miền núi khá nhiều; hiệu quả tích cực khá rõ nét. Bài viết chưa thể nêu hết được tất cả những cái được và đặc biệt về những tồn tại bất cập từ thực tế triển khai các chính sách và các chương trình dự án cụ thể...Tuy nhiên, theo đó để có thêm căn cứ về vấn đề cùng quan tâm hiện nay là vùng miền tây của tỉnh vẫn trong thực trạng cần xây dựng “Đề án về các giải pháp giảm nghèo nhanh và bền vững tại các huyện miền núi” theo Thông báo kết luận số 504/KL/TU ngày 10 /7/2012 của Ban thường vụ Tỉnh ủy. Hy vọng Đề án về các giải pháp giảm nghèo nhanh và bền vững cho vùng dân tộc miền núi của tỉnh sớm được ban hành và sẽ khắc phục được nhiều những tồn tại và hạn chế từ những vấn đề nêu trên.