DI TÍCH THẮNG CẢNH XỨ THANH

  Trong một tác phẩm viết về Lý Thường Kiệt, giáo sư Hoàng Xuân Hãn đã nhận định: “Trong cả nước Việt Nam, không có nơi nào có nhiều cảnh đẹp như ở Thanh Hóa”. Nhận định ấy có cơ sở, đây là những tài nguyên thiên nhiên đặc sắc hình như Thanh Hoá được dành phần ưu tiên.

  Đã có rất nhiều bài viết về những danh lam thắng cảnh này. Mỗi địa điểm đều có thể xứng đáng cho một cuốn sách miêu tả, hay được gắn với những huyền thoại cổ tích, hoặc gắn với những sự kiện lịch sử toàn quốc và địa phương. Chúng ta có thể điểm qua dưới đây, một số thắng cảnh đã quen thuộc:

 

I. THẮNG CẢNH THIÊN NHIÊN

1. Bãi biển Sầm Sơn

 Bãi biễn Sầm Sơn

  Bãi biển Sầm Sơn có hình trăng khuyết, chạy dài 9km từ chân núi Trường Lệ đến xã Quảng Cư (thị xã Sầm Sơn), rộng hàng nghìn mét, bằng phẳng, cát mịn, không có chỗ quá sâu, lầy thụt hoặc đá ngầm, sau hô nhờ đó, đã tạo nên những bãi tắm lý tưởng, người tắm có thể ra khá xa bờ vẫn thấy an toàn.

  Nước biển Sầm Sơn có độ mặn và nhiệt độ thích hợp, có lợi cho sức khỏe và có khả năng chữa được một số bệnh, rất thích hợp cho con người nghỉ ngơi, an dưỡng. Nhà học giả người Pháp Le Breton nhận định: “Đây là bãi tắm tốt nhất để phục hồi sức khoẻ”.

  Sóng biển Sầm Sơn nhẹ nhàng, khí hậu điều hòa như chiếc máy điều hòa nhiệt độ khổng lồ, giữ cho mùa hè lộng gió và dịu mát, mùa đông bớt phần giá buốt. Biển Sầm Sơn có gần 1.000 loại tôm, cua, cá và nhiều hải sản quí hiếm; đặc biệt có món gỏi cá và lẩu rắn biển được nhiều người ưa thích.

  Sầm Sơn còn có một loại phương tiện đi biển đặc biệt đó là: những chiếc mảng làm bằng luồng. Năm 1994, ông Tim Severin đã đóng và hạ thủy tại đây một chiếc mảng vượt đại dương làm bằng những cây luồng Thanh Hóa. Ông mời anh Lương Văn Lợi - một ngư dân sở tại cùng vượt Thái Bình Dương và trở về an toàn. Đến tham quan, ta có thể nghe anh Lợi kể lại chuyện vượt biển này và xem những bức ảnh chụp chiếc mảng đang thử thách trước những cơn bão lớn giữa vùng biển Nhật Bản và Đài Loan.

  Sầm Sơn không chỉ có bãi biển đẹp, bãi tắm tuyệt vời, lại có cả núi đá, đủ các hòn lớn, nhỏ, nằm, ngồi, chồng lên nhau thành muôn hình muôn vẻ, ngay cạnh mép nước biển, có rừng cây bóng mát, có đền chùa, di tích với nhiều truyền thuyết cổ tích, dân gian... lý thú. Đó là đền thờ thần Độc Cước, đền Cô Tiên, đền Tô Hiến Thành, hòn Trống Mái v.v...

  Đền Độc Cước: Đền thờ một vị thánh một chân, có kỳ tích bảo hộ quê hương chống loài quỉ biển. Đền ở trên núi Cổ Rùa, thuộc dãy Trường Lệ. Dãy núi này có hình thù một phụ nữ nằm ngửa, bộ ngực nở nang. Đền có ghi năm trùng tu vào niên hiệu Chính Hòa (1675 - 1705).

  Đền Cô Tiên: Đền được xây trên hòn Đầu Voi, dưới chân là Vụng Ngọc và hòn Câu. Nơi đã được Bác về thăm và nghỉ tại đây (1960).

  Đền thờ Tô Hiến Thành: một đại thần triều Lý (thế kỷ XII) nổi tiếng thanh liêm chính trực, từng cầm quân vào dẹp loạn ở vùng ven biển Thanh Hóa, nhờ thế nhân dân được an cư lạc nghiệp.

Hòn Trống- Mái trên núi Trường Lệ

  Hòn Trống mái: Nơi có hai hòn đá to nhỏ châu vào nhau, xung quanh là những đá nhỏ. Truyền thuyết nói đây là một gia đình có đôi vợ chồng và đàn con đã hóa thành đá, để vĩnh viễn thuỷ chung bên nhau. Nhà văn Khái Hưng có tiểu thuyết Trống Mái là do cảm hứng từ cảnh đẹp này.

  Đã từ lâu Sầm Sơn nổi tiếng là một khu du lịch và nghỉ mát có nhiều thắng cảnh. Kể từ năm 1981 đến nay, Sầm Sơn được xây dựng và phát triển trên những quy mô mới của một thị xã du lịch. Hàng trăm khách sạn, cơ sở điều dưỡng của các bộ, ngành ở Trung ương và trong tỉnh, của các tư nhân với nhiều kiểu dáng vừa hiện đại, vừa đậm nét kiến trúc truyền thống được xây dựng với những điều kiện phục vụ ngày càng hiện đại, nhằm phục vụ cho khách tham quan du lịch, nghỉ mát trong nước và khách nước ngoài. Trong tương lai, khu du lịch và nghỉ mát này sẽ còn được đầu tư và phát triển.

 

2. Thắng tích Hàm Rồng.

Khu di tích Hàm Rồng

  Hàm Rồng cách trung tâm thành phố Thanh Hoá 4 km, ở dọc trục đường Quốc lộ 1A. Trong tương lai không xa nơi đây sẽ là khu du lịch văn hoá sinh thái hấp dẫn của Thanh Hoá. Thắng tích Hàm Rồng gồm một quần thể núi, sông kỳ tú, sơn thủy hữu tình:

  - Núi Rồng: là một dãy núi bao gồm nhiều ngọn, chạy dọc bờ Nam sông Mã có hình dáng con rồng theo trí tưởng tượng dân gian.

  - Động Long Quang: còn gọi là hang Mắt Rồng, xuyên từ bên này sang bên kia như đôi mắt. Nhiều nhà thơ đã đến đây từ đời Trần (Phạm Sư Mạnh, Lê Quát), đời Lê (Lê Thánh Tông). Nguyễn Trãi có bài Long đại nham nổi tiếng.

  - Núi Voi: Từ Hán là Tượng Sơn, có nhiều hang động, cảnh rất đẹp: Thạch nhũ tạo nên nhiều hình dáng, được xem như là những cảnh địa ngục, cảnh thủy cung hội hè rước xách, cảnh trai gái tự tình.

  - Núi Nít: Còn có tên là núi Ngọc, là hòn Hỏa Châu Phong, vì trông như cột lửa phụt lên tự lòng đất. Núi này ở bờ Bắc sông Mã, đối diện với núi Rồng (bờ Nam). Đi qua vùng này, không mấy ai không biết đến các câu ca dao cổ:

                                      “Chín mươi chín ngọn bên Đông,

                          Còn một ngọn Nít sang sông chưa về”.

                                      “Thanh Hóa thắng địa là nơi

                          Rồng vờn hạt Ngọc, Hạc bơi chân Thành” v.v...

  - Ở phía Tây: Còn nhiều núi có hình thù kỳ thú: Núi Ngũ Hoa phong, giống 5 bông hoa, núi Mẹ núi Con giống hai quả trứng, núi Tả Ao như người đàn ông ngủ, núi con Mèo, núi Cánh Tiên...

  - Cầu treo Hàm Rồng bắc qua sông Mã: Được xây dựng năm 1904, đã tô thêm cảnh đẹp Hàm Rồng. Thi sĩ Tản Đà đã cảm tác nhớ mong (thơ 1933):

                                 “Ai xui ta nhớ Hàm Rồng

                           Muốn trông chẳng thấy cho lòng khôn khuây

                                 Từ ta trở lại Sơn  Tây

                           Con đường Nam Bắc ít ngày vãng lai”                                 

                                 Sơn cầu còn đỏ chưa phai?

                          Non xanh còn đối? sông dài còn sâu?

                               Còn thuyền đánh cá buông câu?

                          Còn xe lửa chạy trên cầu như xưa?”.

  Trong kháng chiến chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, Hàm Rồng nổi tiếng với nhiều chiến công.

  - Năm 2000, một cây cầu lớn và hiện đại được xây dựng cạnh cầu Hàm Rồng bắc qua sông Mã, gọi là cầu Hoàng Long.

 

3. Động Bích Đào.

Động Bích Đào

  Còn gọi là hang Từ Thức, thuộc xã Nga Thiện, huyện Nga Sơn, là nơi theo cổ tích đã diễn ra câu chuyện gặp gỡ tiên trần giữa Từ Thức - Giáng Hương. Cảnh trí rất đẹp: nhiều thạch nhũ tạo thành các hình phường bát âm, tranh ảnh, bàn cờ, áo mũ, bàn tay Từ Thức - Giáng Hương, cô và cậu, măng đá, non bộ, cây vàng, đào tiên... có đường “lên trời”, đường xuống “âm phủ” . Sách Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ (thế kỷ XVI) đã viết truyện này. Sau đó Lê Khắc Khuyến viết tập truyện nôm Từ Thức tiên hôn (đầu thế kỷ XX). Nhiều văn nhân, học giả tới đây đề thơ, bài của Lê Quý Đôn là tiêu biểu.

  “Đề Bích Đào động

Hải thượng quần tiên sự diễu mang

Bích Đào động khẩu cửa hoang lương

Kiền khôn nhất cát cùng Từ Thức

Vân thủy song nga lão Giáng Hương

Thạch cổ hữu thanh xao hiểu nhật

Sa diêm vô vị niết thu sương

Thế nhân khổ tác Thiên Thai mộng

Thùy thức Thiên Thai diệc hí trường”

Tạm dịch:

“Mờ mịt thần tiên ngất dặm dương

Bích Đào động cũ dấu thê lương

Áo gai phiêu bạt thân Từ Thức

Mây nước già dăm mặt Giáng Hương

Trống đá nghe khua lay động sớm

Sương thu chăng đượm cát sa trường

Thiên Thai bao kẻ từng xây mộng

Nào biết Thiên Thai cũng hí trường”.

  Cách động Bích Đào chừng 1 km về phía trái là động Dơi, có tên là động Bạch Ác, cũng có nhiều thơ đề vịnh.

 

4. Động Hồ Công

Đường vào Động Hồ Công

  Dọc đường 45, đi từ thành phố Thanh Hóa, qua sông Chu (cầu Vạn Hà), sông Mã (cầu Kiểu) đến dãy núi Xuân Đài (xã Vĩnh Ninh, huyện Vĩnh Lộc) nổi tiếng từ xưa. Nhờ dưới chân núi có chùa Dụ Anh (tức chùa Thông - xây dựng năm  1270) và trên lưng chừng núi có động Hồ Công. Động Hồ Công từng được người xưa liệt vào kỳ quan bậc nhất ở phương Nam. Truyền thuyết kể là xưa kia, ở đây có chàng Trịnh Phát Giác được gặp vị tiên là Hồ Công Long, cho vào ở trong một quả bầu là một thế giới thần tiên, con người cực kỳ sung sướng. Khi Trịnh được về, Hồ Công cho một cái gậy rút, y như chuyện Phí Trường Phòng ở Trung Quốc ngày xưa. Bên đường lên động, trên một phiến đá tự nhiên có khắc dòng chữ: “Thanh kỳ khả ái” (xứ Thanh kỳ lạ đáng yêu).

  Nhiều văn nhân, danh sĩ đã đề thơ tại đây như: Phùng Khắc Khoan, Nguyễn Nghiễm, Trịnh Sâm, Ngô Thì Sĩ... bài thơ của Lê Thánh Tông là tiêu biểu:

  “Thần chùy, quỷ tạc vạn trùng san

Hư thất cao sang vũ trụ khoan

Thế thượng công danh đồ thị mộng

Hồ trung nhật nguyệt bất thăng nhàn

Hoa Dương long khứ huyền chân trụy

Bích lạc truyền lưu bạch ngọc hàn

Ngã dục thừa phong lăng tuyệt đỉnh

Vong cung vân hải hữu vô gian”.

Tạm dịch:

Khôn thiêng khéo tạc núi muôn trùng

Cửa động thênh thang gió dễ thông

Cuộc thế công danh như giấc mộng

Bầu tiên mừng nguyệt thú vô cùng

Hạt châu rơi đất nghi rồng hóa

Giọt nước muôn trời rẽ suối trong

Muốn cưỡi gió lên chơi đỉnh núi

Trông mây, trông nước tứ tầng không

  Cách động Hồ Công không xa, có ngọn núi rất giống hình dáng một vị tiến sĩ, nên cũng gọi là núi Tiến sĩ. Núi này ngoảnh về làng Bồng (xã Vĩnh Tân) là nơi có nhiều người đỗ đạt, quê hương cụ nghè Tống Duy Tân.

 

5. Động Kim Sơn

Động Kim Sơn

  Ở xã Vĩnh An, huyện Vĩnh Lộc là một vùng sơn thủy hữu tình, rộng khoảng 150 ha, trong đó có 80 ha là hồ vực. Vào động, phải đi thuyền luồn qua hang (như cách vào động Phong Nha, Quảng Bình). Phía trong là nhiều động, nhiều khối đá, có hồ rộng, có cả những động lộ thiên, có cầu được nói là cầu Tiên Bắc. Một ngôi động lớn hơn, được nói là nơi vua Trần đã vào đây ẩn nấp khi đánh quân Nguyên Mông. Đặc biệt trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, nơi đây là công binh xưởng sản xuất vũ khí của quân đội, đồng thời là nơi trú ẩn của nhân dân. Kim Sơn cũng có nhiều bia, có nhiều thơ, văn, đại tự, mỹ tự... đề vịnh được khắc sâu vào vách động.

  Kim Sơn có nhiều sản vật: Dưới nước là tôm, cá, ba ba;  trên núi là sáo, vẹt. Đặc sản ở đây là củ ấu gai, đầu nhọn như hai cái sừng, ăn bùi và béo. Sau động là một ngọn núi, gọi là núi Mụ Thệu. Huyền thoại kể rằng mụ này nhìn vào vật gì thì vật ấy hóa đá, nhưng đã có phép của sáu nàng tiên ngăn cản những hành động của mụ.

 

6. Biện Sơn

  Biện Sơn còn có tên là Cù lao Biện ở về phía Đông Nam, huyện Tĩnh Gia, giáp huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An. Từ trong đất liền trông ra, Biện Sơn giống như một con chiến mã khổng lồ đang nằm ngủ, phía Đông Biện Sơn là biển cả mênh mông, phía Tây là vụng Ngọc và đất liền, phía Nam là hòn Cù, phía Bắc là đảo Mê và nhiều hòn đảo khác, được mệnh danh là Thập bát Mã Sơn và đều có hướng quay nhìn về Biện Sơn. Dân gian có câu:

                                      “Bung, Mê, Sổ, Sập tứ bề

                          Hòn Vàng choi chói, chầu về Biện Sơn”.

  Địa thế Biện Sơn có nhiều ngọn núi cao thấp, nhấp nhô như làn sóng biển. Nhiều hòn đá, hang đá trên đảo tạo nên những hình tượng tuyệt mỹ. Đứng trên đỉnh cao của Cù lao Biện nhìn bốn phía mênh mông biển cả, sóng vỗ dập dờn, nhấp nhô, xanh biếc. Xưa kia nơi đây cây cối um tùm, rợp bóng quanh năm, được mệnh danh là hòn đảo xanh, hòn ngọc của bờ biển miền Trung.

  Biện Sơn có vụng Ngọc, nơi tàu thuyền ra vào, nghỉ lại an toàn, không sợ bão to sóng lớn, có giếng Rửa Ngọc (Tẩy Ngọc), có giếng nước ngon trong mát, người đi biển thường ghé tới lấy nước pha trà, có sự tích An Dương Vương, Mỵ Châu, Trọng Thủy cùng nhiều kỷ niệm lịch sử và huyền thoại.

  Biển Biện Sơn bốn mùa tôm, cá và hải sản quý. Đặc biệt có yến sào, ngọc trai, sò huyết... Khí hậu Biện Sơn mùa hè dịu mát, không khí trong lành, đã có con đê lớn nối với đất liền. Biện Sơn đang cùng với đảo Mê và các đảo lân cận hình thành cụm du lịch sinh thái biển lý thú trong khu công nghiệp Nghi Sơn.

  Biện Sơn xưa và nay vẫn là thắng cảnh đẹp như dân gian hằng ca ngợi:

                                      “Biện Sơn biển bạc, rừng vàng

                                  Ai đi đến đó, lãng quên đường về”

 

7. Núi Nhồi - Núi Vọng Phu

 Núi Nhồi - Núi Vọng Phu

  Núi Nhồi cách trung tâm thành phố Thanh Hóa khoảng 3km về phía Tây, thuộc địa phận hai xã Đông Hưng và Đông Tân (ngày nay thuộc địa phận thành phố Thanh Hóa). Bao quanh núi Nhồi gồm các núi quần tụ liền nhau, đó là núi Đống (phía Tây), núi Chân Thần (phía Tây Nam), núi Nấp (Quảng Náp phía Nam), núi Chồng Mâm (núi Đình Thượng - phía Bắc). Dưới chân núi là dòng Hương Giang lượn quanh làng xóm đông đúc rồi thông ra sông Mã, tạo nên cảnh thiên nhiên hùng vĩ, hữu tình. Xưa kia dưới chân núi Đống, đã từng diễn ra cảnh trên bến dưới thuyền, tấp nập kẻ mua người bán các sản phẩm chế tác từ đá núi Nhồi. Đá núi Nhồi đã đi muôn nơi, có mặt ở hầu khắp các công trình kiến trúc, lăng tẩm, đền đài, bia ký, tượng đá... Những bàn tay tài hoa của người thợ đục đá làng Nhồi đã tạo nên những tác phẩm nghệ thuật bằng đá tuyệt mỹ và vô giá. Chất đá ở đây nổi tiếng là quí hiếm, không nơi nào có được. Đó là sản vật quý của mọi người, sắc đá ống ánh như ngọc lan, chất xanh biếc như khói nhạt, tiếng đá vang trong, nổi tiếng tận Trung Hoa. Thời Bắc thuộc, các Thái thú lấy đá núi Nhồi làm khánh chở về Trung Quốc, khánh đá núi Nhồi kêu ngân vang như tiếng chuông.

  Núi Nhồi còn có tên là núi Khế, núi An Hoạch, Nhuệ Sơn, núi Vọng Phu. Từ xa, ta có thể nhìn thấy trên đỉnh núi Nhồi nổi bật trên nền trời một trụ đá hình người phụ nữ bế con hướng nhìn ra phía biển Đông xa xôi, nên đặt tên là “Đá Vọng Phu” (Vọng Phu Thạch - Đá trông chồng). Trải bao gió bụi của thời gian, hình ảnh đó vẫn cứ “trơ gan cùng tuế nguyệt”. Nhiều văn nhân, thi sĩ đã dừng chân, đề thơ, tiêu biểu là bài thơ của Đại thi hào Nguyễn Du:

                       “Đá chăng? Người đó? Chi đây?

                   Một mình trên ngọn núi này ngàn năm

                          Bạn đời không chút mộng rằng

                   Điều trinh giữ vẹn tấm thân muôn đời

                          Mưa thu lệ cũng tuôn rơi

              Dấu rêu lấp triện, phi lời văn chương

                          Núi đồi lớp lớp khói sương

              Để riêng bạn gái luân thường nêu cao”

Và trong dân gian Thanh Hóa còn lưu truyền câu thơ:

                          “Vọng Phu trẻ mãi không già

                     Thủy chung đứng đó biết là chờ ai?

  Dưới chân núi Vọng Phu và các núi chung quanh là quần thể di tích lịch sử văn hóa phong phú. Đó là: Chùa Hinh Sơn (Hinh Sơn Tự, còn có tên là Chùa Hang dưới chân núi Vọng Phu), chùa Tiên Sơn (phía Đông núi Khế), Đình Thượng (trên sườn núi Chồng Mâm, thờ thần núi), chùa Báo Ân (Đông Hưng) xây dựng khoảng năm 1099 - 1100, chùa Quan Thánh (Đông Hưng), lăng Quận Mãn (Mãn Quận Công, làng Nhuệ) hiện còn bia đá, cặp hổ phục, rồng chầu, cặp ngựa đá, hai cặp tượng đá (dũng lực sĩ, cường lực sĩ, tráng lực sĩ, đinh lực sĩ). Đây được coi là công trình kiến trúc nghệ thuật điêu khắc đá độc đáo ở Thanh Hóa thế kỷ XVIII.

 

8. Cửa Hà

Thắng tích Cửa Hà

  Đoạn sông Mã chảy trên đất Cẩm Thủy qua những thác ghềnh như thác Ngốc, thác Sóng Ngàn đến đất Phong Ý lòng sông mở rộng (trên 200 m) trông như một hồ lớn, nước trong xanh hiền hòa trong mùa khô, cuộn xoáy trong mùa mưa, bờ bên tả là vách núi dựng đứng (cao trên 220 m), đỉnh núi nhấp nhô. Nơi đây tập trung các bè gỗ, luồng nứa rất nhiều để đổ về xuôi; cảnh trên bến dưới thuyền, đông vui nhộn nhịp. Tên Cửa Hà có từ đầu thế kỷ XIX, khi huyện lỵ Cẩm Thủy chuyển từ Cẩm Vân về Phong Ý thuộc địa phận 2 xã Cẩm Sơn và Cẩm Phong. Cửa Hà có vẻ đẹp ngoạn mục của một cửa sông miền xuôi. Cảnh ngoạn mục ấy nằm  ngay bên vùng rừng núi hùng vĩ, âm u của miền sơn cước tạo nên vẻ đẹp riêng khiến cho Cửa Hà trở thành một thắng cảnh của xứ Thanh. Sách Dư địa chí của Nguyễn Trãi, Kiến văn tiểu lục của Lê Quý Đôn đã xếp cửa Hà là danh thắng. Năm 1937, đã có dự định mở hội chợ Đông Dương tại đây, nhưng sau không thực hiện.

  Đền Cửa Hà được xây dựng từ thế kỷ XV, thờ các anh hùng liệt nữ có công giữ gìn vùng đất này, cũng là để thờ thần sông, thần núi, thờ các nghĩa sĩ trận vong Lam Sơn và thờ Mẫu (năm 2002 đền bị núi đá sụt lở nhấn chìm dưới lòng sông Mã). Trên vách đá dựng đứng ở độ cao 5m ngay sau mái đền, ta dễ nhìn thấy những vần thơ tuyệt tác Bích Mai Nhai ca ngợi phong cảnh cửa Hà với tất cả nỗi niềm xao xuyến:

Phiên âm:

Sơn nguy nguy hề thủy thanh thanh

Bất kiến nhân hề khước hữu tình

Đắc ý hoảng nghi du bích lạc

Dương tiên hỗn tự bộ vân trình

Không Không thiên lại tiêu thiều vận

Hác lịch tuyền lưu gác thược thanh

Tá vấn đăng lâm du thiển khách

Ngô châu hà xứ thị bồng doanh

Tạm dịch:

Núi cao vời vợi nước trong xanh

Cảnh cũ người nay thật hữu tình

Những tưởng du chơi vườn bích ngọc

Vung roi vó ngựa chốn mây xanh

Vẳng vẳng nhạc thiều êm sáo trúc

Rì rầm suối ngọc khúc liên thanh

Du lãm chốn này bao du khách

Bồng lai tiên giới cảnh đâu bằng

 

9.  Suối cá Cẩm Lương

Suối cá thần Cẩm Lương

  Cẩm Lương là một xã miền núi, nằm trong thung lũng của dãy núi đá vôi Bồ Um, cạnh sông Mã. Cư dân ở đây chủ yếu là người Mường. Khí hậu quanh năm ôn hoà, mát mẻ (nhiệt độ trung bình 20 - 22oC).

  Suối cá Cẩm Lương (hay còn gọi là Vó cá Cẩm Lương, hang cá Cẩm Lương) nằm trong địa phận làng Ngọc, xã Cẩm Lương, huyện Cẩm Thuỷ, cách huyện lỵ Cẩm Thuỷ 10 km về phía Tây - Bắc, cách thành phố Thanh Hoá 80 km về phía Tây.

  Theo dân làng Ngọc kể lại thì hang cá ở đây có từ xa xưa. Có nhiều truyền thuyết nói về sự xuất hiện của đàn cá, nhưng hầu như đều chung một quan niệm đó là những thần linh của núi, sông đang ngày đêm bảo vệ cuộc sống yên vui của bản làng. Vì vậy đàn cá được dân bản địa phong là Cá Thần, mọi người không dám đánh bắt ăn thịt. Và cứ thế, cùng với thời gian, đàn cá ngày càng sinh sôi, nảy nở.

  Suối Ngọc chảy ra từ một hang lớn của núi Bồ Um. Cửa hang rất nhỏ, chỉ một người chui lọt, lòng hang rất rộng và nước sâu. Đàn cá sống trong hang, có tới hàng ngàn con. Những con cá Chúa nặng khoảng 20 đến 30 kg, mang có vòng đỏ, ánh vàng tựa như đeo khuyên bằng vàng. Ngày thường cá Chúa không ra khỏi hang, mà chỉ vào mùa lũ, nước to, chúng mới ra khỏi hang, nhưng cũng rất ít người trông thấy. Suối Ngọc không dài lắm, từ cửa hang ra tới khu vực đền Ngọc khoảng 150m, chỗ rộng nhất khoảng 6m, chỗ nước sâu nhất độ 1m. Đàn cá hàng ngàn con nặng từ 2 đến 8kg quanh quẩn ở đoạn suối này rồi vào hang, không bao giờ ra khỏi dòng suối, mặc dù phía ngoài là một cánh đồng rộng.

  Nước suối Ngọc bao giờ cũng trong vắt, cả mùa mưa lẫn mùa khô. Dưới dòng suối là một lớp đá cuội óng ánh dưới ánh mặt trời như những viên ngọc càng tạo ra vẻ đẹp kỳ diệu khi đàn cá bơi lội qua.

  Dân bản Ngọc hàng ngày thường ra suối tắm giặt, rửa rau, vo gạo, đàn cá không sợ người mà rất thân thiện, quây quần quấn quýt quanh người.

  Bên cạnh suối có đền Ngọc, thờ Tứ phủ Long Vương. Đền còn đơn sơ, nhưng là nơi ngày rằm, mùng một nhân dân quanh vùng đến thắp hương tế lễ, cầu thần Tứ phủ Long Vương phù hộ cho sức khoẻ và công việc làm ăn của con người.

  Phía trên suối Ngọc là dãy núi Trường Sinh, có một động lớn người ta còn gọi là động cây đăng (trước đây có một cây đăng cổ thụ trước cửa động, nhưng nay không còn nữa). Vị trí của động cao khoảng 70 m so với khu vực suối Ngọc. Cửa động rộng từ 5  - 8 m, cao khoảng 7 m  nên rất dễ ra vào. Trong động có nhiều nhũ đá với những cảnh tượng như đôi trai gái đang đứng ôm nhau, người con gái có suối tóc dài tận gót, tượng mẫu tử, bầu sữa, kho lúa, kho vàng... trông rất đẹp mắt và nên thơ.

  Suối cá và những hang động ở làng Ngọc - Cẩm Lương là một địa danh phong cảnh hữu tình, với những truyền thuyết huyền bí về đàn Cá Thần, đúng là một danh thắng nổi tiếng của quê hương Thanh Hoá cần được tôn tạo và bảo vệ.

 

10. Ngàn Nưa

Thắng tích Ngàn Nưa

  Thuộc địa phận ba huyện Như Thanh, Nông Cống, Triệu Sơn. Trước kia nơi đây từng là cả một rừng nứa bạt ngàn, có nhiều gỗ quý và động vật quý hiếm. Đã có câu phương ngôn: “Vật rừng Nưa, dưa chợ Bạng”. Lại có nhiều suối đẹp, lắm cá, đặc biệt là cá “mầm mầm rễ chuối”. Cách đánh cá cũng lạ: lấy lá ngơn hoặc khô dầu vò nhỏ, thả xuống suối, cá say nổi lên, vớt bỏ vào nồi nấu chín ăn ngay.

  Từ xưa, Ngàn Nưa được xem là một vùng gắn với những huyền thoại và giai thoại. Sách Lịch triều hiến chương, sách Truyền kỳ mạn lục đều nhắc đến người tiều phu núi Na. Dân gian thì truyền tụng về ông Tu Nưa, vị thần tạo ra núi Quảy, sông Cày. Có thuyết nói Ngàn Nưa là nơi Bà Triệu dấy binh. Nơi đây, Tống Duy Tân đã đặt cứ điểm chống Pháp, và Nguyễn Thượng Hiền cũng về ở ẩn.

 

11. Vườn cò Tiến Nông

Vườn cò Tiến Nông

  Từ thành phố Thanh Hoá dọc theo Quốc lộ 47, qua cầu Thiều rẽ trái và xuôi theo đê sông Hoàng Giang là đường rải cấp phối gần 3km, vườn cò Tiến Nông sẽ hiện ra trước mắt chúng ta. Vườn cò là một gò đất cao và rộng có nhiều bụi tre gai, nằm giữa cánh đồng trũng. Vào mùa mưa vườn cò nằm giữa hồ nước rộng, nên làng Nga còn có tên là “Làng cò hồ Nga” - xã Tiến Nông, huyện Triệu Sơn. Vào buổi chiều khi cò đi kiếm ăn về thì đó là một vườn tre xanh biếc, cò trắng đậu trên ngọn tre trông như một tấm thảm trắng phủ lên trên.

  Theo như lời kể của những người cao tuổi ở xã Tiến Nông thì vườn cò đã có từ cách đây hơn 100 năm.

  Vườn cò Tiến Nông có diện tích 3,5 ha, trong đó có 2 ha mặt nước hồ bao quanh và 1,5 ha đất trồng gần 200 bụi tre cao từ 3-10 m, là nơi cư trú và làm tổ của các loài chim. Theo nghiên cứu gần đây, vườn cò Tiến Nông có 6 bộ, 10 họ  với 17 loài, trong đó có Bộ Hạc (Cinomiiformes) gồm 6 loài, chiếm số lượng lớn của vườn cò. Trong đó nhiều nhất là cò trắng (cò ngàng lớn - camerodius avous; cò ngàng nhỏ - Mesnophoyx intermedia); cò bợ (Ardeola bacchus), có tháng cả cò trắng và cò bợ tới 3.500 con. Ngoài ra còn có Cuốc chân đỏ (Amamonis akool); cuốc ngực trắng (A.phoenicurus); Rẽ giun lớn (gallinogo nemoricola); Rẽ giun nhỏ (Lymnocryptes minimus); Sẻ quạt họng trắng (Rhipidura albicollis)...

  Đa số  các loài cò ở đây đều thuộc loài định cư, có yêu cầu sinh thái phức tạp, hoạt động quanh năm, hàng ngày kiếm ăn từ 5 giờ đến 17 - 18 giờ, phạm vi từ 1 - 10 km. Tuỳ từng loài mà vị trí kiếm ăn và thức ăn của chúng khác nhau: Cò bợ chỉ quanh bờ ruộng, bờ ao hay ở những hồ nước cạn, nó có thể đứng rình mồi hàng giờ hoặc dò dẫm dọc theo bờ nước để bắt tôm, tép, cá con.  Khi cò bợ đứng ta thấy cò có đầu và cổ màu vằn đỏ, lưng nâu, khi cò bợ bay lên hoặc bay là là trên mặt ruộng ta thấy cánh và đuôi có màu trắng.

  Cò trắng thường kiếm ăn ở các ruộng lúa nước, thức ăn là tôm, tép, cá con và các loài ếch nhái nhỏ...

  Mùa sinh sản của các loài cò thường kéo dài từ tháng 3 đến tháng 9 hàng năm, trong thời gian sinh sản cò có bộ lông đẹp và rực rỡ, cò trắng có bộ “áo cưới” kỳ lạ, khi đó bộ lông trắng và có thêm những lông dài ở đầu, ngực và vai, các lông này là các sợi lông nhỏ, không móc vào nhau, khi cò đậu chúng rủ xuống như tấm mành thưa, còn khi bay trên bầu trời thì các lông đó bay như những dải lụa trắng.

  Theo thống kê chưa đầy đủ thì ở Việt Nam có 850 loài chim, một số loài chim có số lượng lớn hầu hết đều nằm ở các tỉnh phía Nam. Ở phía Bắc Việt Nam những sân chim như vườn cò Tiến Nông là vô cùng quí hiếm. Sự hiện diện của vườn cò Tiến Nông là một trong những nguồn tài nguyên tự nhiên quý giá cần được bảo vệ và xây dựng thành nơi tham quan, học tập cho học sinh, sinh viên và phát triển thành điểm du lịch sinh thái ở Thanh Hoá.

 

12. Vườn Quốc gia Bến En

Vườn Quốc gia Bến En

  Vườn Quốc gia Bến En nằm trong địa giới hành chính các xã: Xuân Bái, Bình Lương, Xuân Bình, Hóa Quỳ thuộc địa bàn hai huyện Như Xuân và Như Thanh, cách thành phố Thanh Hóa 36 km về phía Tây Nam. Đây là một cảnh quan thiên nhiên, được xếp vào loại đẹp nhất trong 10 vườn quốc gia của cả nước. Vườn có tổng diện tích 16.634 ha,  gồm 18 tiểu khu và dãy núi đá vôi Hải Vân; vườn có khu vực núi thấp; khu vực đồi gò có 121 hòn đảo nhỏ; hai con sông: sông Mực, sông Chàng và bốn con suối: Hàn Vị, Thổ, Cốc, Tạm. Hồ sông Mực có trên 40 loài thủy sản, nổi tiếng là cá mè. Hồ dưới có nhiều đảo đá vôi, cho ta cảm giác như đến với một vịnh Hạ Long thu nhỏ.

  Rừng Bến En là rừng thứ sinh với nhiều kiểu rừng kín khác nhau, các nhà chuyên môn phân biệt thành nhiều kiểu. Hệ thực vật có 462 loài, 125 bộ. Đáng chú ý là lim xanh và các loại lim vẹt, lát hoa, dổi, sến mật, chò chỉ, bù hương, vàng tâm. Ưu thế là lim xanh, săng lẻ, đặc trưng của hai luồng thực vật miền Bắc, miền Nam. Còn nhiều cây nguyên liệu (song, mây) cây cho dầu, cây làm thuốc, hoa phong lan.

  Động vật rừng Bến En cũng đa dạng: côn trùng có 132 họ, 31 giống và 300 loài. Có 62 loài thú: có 19 loài được liệt vào sách đỏ Việt Nam. Có cả hổ, voi châu Á, vượn bạc má, gấu chó, khỉ là những loại liệt vào hạng đang bị đe doạ tuyệt chủng. Chim có 162 loài, 114 giống, 44 họ, 18 bộ. Có loài Myđeria Leucocephala là loại quý hiếm cấp độ quốc gia. Đã ghi nhận được 88 loài bướm của 10 họ, trong đó:

  - Loài Ypthima là chưa được biết tới ở Việt Nam.

  - 4 loài được coi là cống hiến mới: Meganoton (rufescens), Anbuly Clavata, Clanistitan, Smenrin thulus qua draiphunctatus.

  Lưỡng cư và bò sát cũng đa dạng. Đã ghi nhận được loài Bufogabatus là loại hiếm trong sách đỏ Việt Nam.

  Vườn quốc gia Bến En là một vườn quý hiếm, tiềm năng đa dạng và phong phú về sinh học và phong cảnh, sẽ giúp nhiều cho các loại hình du lịch và cho việc nghiên cứu thiên nhiên Thanh Hóa.

 

II. DI TÍCH LỊCH SỬ

1. Lăng và đền Bà Triệu

Đền Bà Triệu

  Đền thờ Bà Triệu ở làng Bồ Điền, nay là xã Phú Điền, huyện Hậu Lộc, sát đường Quốc lộ 1A, cách thành phố Thanh Hóa 17 km về phía Bắc. Đền tựa lưng vào núi Gai. Nhìn sang bên là Lăng, dựng trên núi Tùng, gồm Mộ và Tháp. Cảnh trí ở đây rất phong quang xinh đẹp, xứng đáng với vị nữ anh hùng. Hội đền Bà Triệu hàng năm mở vào mùa xuân và là lễ hội lớn ở Thanh Hóa.

 

2. Đền thờ Lê Hoàn

Đền thờ Lê Hoàn

  Đền ở thôn Trung Lập, xã Xuân Lập, huyện Thọ Xuân. Khu vực đền thờ có tổng diện tích gần 4 ha. Đền rất rộng: 13 gian, có sân rồng, các nhà tiền đường, trung đường và hậu cung. Đặc biệt còn giữ được nhiều hiện vật:

- Trống đồng

- Đỉnh đồng

- Bình hương đồng màu đen, có khắc chữ: Thiên cổ

- Những chiếc bình bằng sứ

- Năm chiếc chén bạc, ống đựng đũa

- Một cái đĩa đá tương truyền là của vua Tống tặng Lê Hoàn, có dòng chữ Hán:

                                      Giang Nam nhất phiến tuyết

                                      Trác khí vạn niên trân.

     (Một phiến đá trắng ở Giang Nam, mài gọt nên vật quý vạn năm).

- Một bức họa chân dung Lê Đại Hành, tương truyền do thợ Trung Quốc vẽ.

- Còn 14 đạo sắc phong của các đời vua từ 1674 đến 1887.

Câu đối ở đền thờ còn nhiều. Đáng chú ý là câu đã được ghi chép trong sử sách, nhắc chuyện bà mẹ vua là bà Đặng Thị nằm mộng thấy hoa sen, sinh ra vua và chuyện bà Dương Thái Hậu khoác áo hoàng bào cho vua. Câu đối viết:

                                      Liên hoa kết thực vương đồ triệu

                                      Long cổn thùy quang đế vị tôn

                                      (Mộng kết hoa sen điềm dựng nước

                                      Hoàng bào ánh tỏa xứng ngôi vua).

Đền Lê Hoàn còn có tấm bia do Hoàng giáp Nguyễn Thực soạn năm 1626 và tấm bia nhỏ hơn nhưng lại dựng trước (1601) do Phùng Khắc Khoan soạn. Gần đền Lê Hoàn, còn có đền thờ bà mẹ của ông. Lễ hội ở đền tổ chức vào các ngày 7, 8 tháng 3 âm lịch, vào loại lễ hội lớn trong vùng.

3. Thành Nhà Hồ

Thành Nhà Hồ

  Thành còn có tên là Tây Giai - Tây Đô, trong địa phận núi Yên Tôn, thuộc hai xã Vĩnh Long, Vĩnh Tiến, huyện Vĩnh Lộc. Thành xây năm 1397. Từ cửa Bắc đến cửa Nam dài 870,5m; từ cửa Đông đến cửa Tây dài 883,5m. Chu vi 3.508m. Diện tích 769.086,75 m2. Mặt ngoài thành được ghép đá khối, trong đắp đất... Phần lớn các khối đá có kích thước 1,4m x 0,7m, có vài khối dài tới 4m, cao 1,2m. Thành có 4 cửa lớn, đều xây cổng vòm bằng đá khối. Lớn nhất là cửa Tiền (cửa Nam) rộng 38m, cao hơn 10m có ba vòm cổng cuốn. Vòm cửa chính giữa cao 5,75m, rộng 5,82m, hai vòm hai bên cao 5,35m, rộng 5,15m.

Sử chép thời gian dựng thành chỉ có 3 tháng, ai cũng phải kinh ngạc. Vì sao vào khoảng cuối thế kỷ XIV, có thể xây dựng một công trình to lớn hoành tráng với thời gian ngắn như vậy mà bằng kỹ thuật thủ công. Các việc vận chuyển đá, chồng đá.v.v..., đến nay vẫn còn được trao đổi. Nhà nghiên cứu người Pháp là Bezacien nhận định đây là một trong những tác phẩm đẹp nhất của nền kiến trúc Việt Nam.

Chung quanh thành nhà Hồ, còn có những vị trí gắn liền với những sự kiện lịch sử văn hóa: núi Đốn Sơn, làng Phương Giai v.v..., còn lưu truyền khá nhiều giai thoại.

4. Khu Lam Sơn - Lam Kinh

Khu Di tích Lam Kinh

Lam Sơn thuộc xã Xuân Lam, huyện Thọ Xuân, quê hương của Lê Lợi, của cuộc khởi nghĩa chống quân Minh. Rất nhiều cảnh quan thiên nhiên ở đây gắn liền với giai thoại, các sự tích về khởi nghĩa Lam Sơn và Lê Lợi: núi Dầu, núi Mục, sông Sũ (tức Lương Giang). Làng quê Lê Lợi là làng Cham (quê nội), làng Chủa (quê ngoại). Dưới chân núi Mục có bia và đền thờ Lê Lợi.

Khi kháng chiến chống Minh thắng lợi, Lam Sơn được xây dựng thành Lam Kinh. Điện Lam Kinh được xây dựng từ 1433. Lam Kinh có nhiều bia mộ của các vua Lê, tiêu biểu nhất là bia Vĩnh Lăng (văn bia do Nguyễn Trãi viết) cũng dựng năm 1433. Ngoài ra có bia Lê Thánh Tông, Hiến Tông, Túc Tông, bia bà Ngô Thị Ngọc Dao v.v... Tất cả đều là những công trình tiêu biểu cho nghệ thuật kiến trúc thời Lê Sơ. Hiện nay đang được trùng tu, tôn tạo thành khu văn hóa, du lịch rộng tới 148 ha (theo quy hoạch mới).

5. Khu Ba Đình

Thuộc địa phận xã Ba Đình, huyện Nga Sơn, cách huyện lỵ 4 km. Gọi là Ba Đình, vì gồm ba làng:  Mỹ Khê, Thượng Thọ, Mậu Thịnh. Ba Đình được bao quanh mấy con sông: sông Hoạt, sông Chính Đại, sông Lèn, sông Báo Văn. Đây là một căn cứ của nghĩa quân Cần Vương dưới sự lãnh đạo của Đinh Công Tráng, Phạm Bành, Hoàng Bật Đạt, cầm cự với quân Pháp thời kỳ 1887 - 1888. Công sự được xây dựng kiên cố, chiến lũy vững vàng. Đây là di tích tiêu biểu cho phong trào Cần Vương ở Thanh Hóa cuối thế kỷ XIX.

III. DI TÍCH CÁCH MẠNG VÀ KHÁNG CHIẾN

1. Chiến khu Ngọc Trạo

Chiến khu Ngọc Trạo

Chiến khu và đội du kích Ngọc Trạo được thành lập ngày 19 - 9 - 1941 tại làng Ngọc Trạo, tổng Trạc Nhật, nay là xã Ngọc Trạo, huyện Thạch Thành. Đây là căn cứ địa, là lực lượng vũ trang tập trung đầu tiên của Thanh Hóa. Ngay khi mới thành lập, ảnh hưởng của chiến khu và đội du kích đã mau chóng lan ra. Số đội viên du kích khi mới thành lập có 21 người, đến cuối tháng 9 - 1941 quân số đã lên tới trên 40 đội viên rồi lên 80 người. Tháng 10 -1941 bị địch khủng bố, đội chuyển về căn cứ Cẩm Bào (Vĩnh Long, Vĩnh Lộc) và sau đó phân tán đi các nơi hoạt động. Đồng chí Nguyễn Văn Hinh (chỉ huy) và nhiều chiến sĩ đã anh dũng chiến đấu và hy sinh.

2. Hàm Rồng

Cây cầu Hàm Rồng bất tử

Khu vực Hàm Rồng và cầu Hàm Rồng, thuộc phường Hàm Rồng, thành phố Thanh Hóa là di tích lịch sử thời kỳ chống Mỹ cứu nước. Di tích này đã được xếp hạng là di tích cấp quốc gia. Tại đây, quân và dân Thanh Hóa đã bắn rơi trên 100 máy bay các loại của đế quốc Mỹ. Nhiều người nước ngoài đã đánh giá: “cầu Hàm Rồng là một tượng trưng trước toàn thế giới về sự thất bại của chính sách hiếu chiến của đế quốc Mỹ”.

Nơi đây hiện còn lại nhiều di tích: sườn núi Cảnh Tiên được quân dân lấy đá xếp thành chữ Quyết Thắng. Nhiều tấm gương chiến đấu đã xuất hiện: anh hùng Ngô Thị Tuyển, và nhiều đơn vị anh hùng khác. Tính đến 1972, có tới 106 máy bay Mỹ, cả B52 bị bắn rơi, nhiều đơn vị được tặng danh hiệu đơn vị anh hùng, được Bác Hồ nhiều lần gửi thư khen.

3. Những nơi Bác Hồ về thăm

Bức chân dung và bút tích Bác Hồ tặng Đảng bộ và nhân dân

các dân tộc Thanh Hóa nhân dịp người về thăm và làm việc

tại Thanh Hóa năm 1961

Từ sau ngày Cách mạng tháng Tám (1945) Thanh Hóa là tỉnh đầu tiên trong toàn quốc được Bác Hồ về thăm. Điều đó nói lên vị trí chiến lược và sự quan tâm đặc biệt của Người đối với Thanh Hóa.

Năm 1947: Bác Hồ về thăm Thanh Hóa lần đầu ngày 20 - 2 - 1947.

Sau 2 đêm hành trình tuyệt đối bí mật từ Chùa Một mái vùng núi Thầy, thuộc xã sài Sơn, huyện Quốc Oai, tỉnh Hà Đông (nay là Hà Nội), Bác đặt chân đến địa phận tỉnh Thanh Hóa hồi 3 giờ sáng ngày 20 - 2 - 1947 và cũng từ giờ phút ấy Người bắt tay ngay vào làm việc, làm việc ngay trên xe của lãnh đạo tỉnh ra đón Người từ Đò Lèn, xã Đại Lộc, huyện Hậu Lộc.

- Buổi sáng tại Rừng Thông (Đông Sơn), sau khi làm việc với lãnh đạo tỉnh, Người gặp gỡ và nói chuyện với cán bộ trong tỉnh. Người đặc biệt nhấn mạnh vai trò quan trọng và những đức tính cần thiết của người cán bộ trong việc đối xử với bản thân, với đồng chí, với công việc, với nhân dân và với đoàn thể. Cuối cùng Người dành ít phút nói về cuộc kháng chiến chống Pháp đã diễn ra ở thủ đô Hà Nội và nhiều nơi khác trong cả nước.

- Buổi chiều và buổi tối: Tại nhà Bác Cổ ở thị xã Thanh Hóa, nay là hiệu sách nhân dân tiếp giáp Đại lộ Lê Lợi và đường Lê Hoàn, thành phố Thanh Hóa,  Người gặp gỡ và nói chuyện với các thân hào, thân sĩ, trí thức, đại biểu các tôn giáo, các tầng lớp nhân dân, Người góp ý trao đổi những giải pháp với tỉnh nhà về các lĩnh vực quân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa… để xây dựng Thanh Hóa trở thành một tỉnh kiểu mẫu.

Năm 1957: Bác Hồ về thăm Thanh Hóa lần thứ hai ngày 13, 14 - 6 - 1957

Ngày 13-6-1957:

Người đến cơ quan Tỉnh ủy và có các cuộc tiếp xúc với đại biểu quân, dân chính đảng, thăm nhà trẻ cơ quan Tỉnh ủy.

 Nói chuyện với hơn 4.000 đại biểu cán bộ và các tầng lớp nhân dân, đại biểu phụ lão, công nhân, nông dân, bộ đội, trí thức, phụ nữ, thanh niên, cán bộ miền Nam tập kết, thương binh, bệnh binh, học sinh, đại biểu các dân tộc, tôn giáo, gia đình liệt sĩ, chiến sĩ thi đua, đồng bào công thương, các cháu nhi đồng và đại biểu Hoa Kiều.

Ngày 14 - 6 - 1957:

Tại trường Nhi đồng miền Nam ở Thanh Hóa, Người hỏi thăm tình hình sinh hoạt và hoạt động của các cháu, nhắc nhở cán bộ và nhân viên khắc phục khó khăn để hoàn thành nhiệm vụ. Người chia kẹo cho các cháu trước khi tạm biệt.

Năm 1960: Bác Hồ đi nghỉ tại Sầm Sơn, thăm Thanh Hóa lần thứ ba ngày 17, 18, 19 - 7 - 1960

Ngày 17 - 7 - 1960:

- Buổi sáng: Người tới Sầm Sơn và lên thẳng Miếu Cô Tiên (nay là Đền  Cô Tiên) nghe Trưởng đồn Công an thị trấn (nay là thị xã) báo cáo tình hình và nghỉ trưa tại đó.

- Buổi chiều: Người làm việc với Bí thư Tỉnh ủy Thanh Hóa, thăm hỏi tình hình đời sống nhân dân và cách làm kinh tế để khắc phục tình trạng đói nghèo ở Thanh Hóa.

- Buổi tối: Người nghỉ tại Miếu (nay là Đền) Cô Tiên.

Ngày 18 - 7 - 1960:

- Buổi sáng: Người gặp mặt, nói chuyện và kéo lưới với ngư dân xóm Vĩnh Sơn, phường Trường Sơn, thăm một gia đình ngư dân sống cạnh bãi biển Sầm Sơn, chụp ảnh chung với cháu bé trong gia đình.

- Buổi chiều: Người thăm nhà nghỉ của Tổng Công đoàn thăm Trại nuôi dưỡng thương binh, Trại an dưỡng của các cụ người miền Nam và đơn vị bộ đội bảo vệ bờ biển (Tiểu đoàn 5, Trung đoàn 57).

- Buổi tối: Người cùng bộ đội và nhân dân xem phim rồi về nghỉ tại Miếu (nay là Đền) Cô Tiên.

Ngày 19 - 7 - 1960:

Người đến thăm và phát biểu tại Đại hội Đại biểu Công đoàn tỉnh Thanh Hóa lần thứ VI.

Năm 1961: Bác Hồ về thăm Thanh Hóa lần thứ tư ngày 11, 12 - 12 - 1961

Ngày 11 - 12 - 1961:

Tại  sân vận động tỉnh, Người nói chuyện với hơn ba vạn đại biểu các tầng lớp nhân dân các dân tộc, tôn giáo... và với niềm xúc động, Người bắt nhịp và cùng mọi người hát bài ca “Kết đoàn”.

Cùng ngày, Người đến thăm hợp tác xã Yên Trường, huyện Yên Định.

Ngày 12 - 12 - 1961:

Người đến thăm Nhà máy Cơ khí, thăm và nói chuyện với  cán bộ, xã viên hợp tác xã Thành Công thị xã (nay là thành phố) Thanh Hóa.

IV.  CHÙA - ĐỀN MIẾU - NHÀ THỜ

 Thanh Hóa là một trong những tỉnh có nhiều chùa, đền miếu, nhà thờ. Những công trình này đều có giá trị lớn trong quá trình nghiên cứu lịch sử, kinh tế - xã hội và tìm hiểu giá trị nghệ thuật kiến trúc; đồng thời cũng là những chứng tích về mặt tín ngưỡng tâm linh. Có những vùng đất văn vật, hoặc những làng quê mà vấn đề phong tục tập quán đặt ra những chuyên đề khai thác dồi dào ý nghĩa. Rồi những sáng tạo nghệ thuật văn chương của các nhà trí thức, các nghệ nhân có thể giúp vào vấn đề tìm tòi bản sắc dân tộc, bản sắc quê hương.

1. Chùa

* THÀNH PHỐ THANH HÓA

- Chùa Thanh Hà (phường Trường Thi)

- Chùa Vân (làng Đông Tác): Còn nhiều pho tượng có từ thế kỷ XVI, XVII.

- Chùa Hội Quản, còn gọi là chùa Phật Học - Hội quán Hoa Kiều, phường Ba Đình.

- Chùa Chanh - Hương Quang Tự (làng Hương Bào, phường Nam Ngạn).

- Chùa Tăng Phúc (xã Đông Cương).

- Chùa Mật Đa - Mật Đa Tự (phường Nam Ngạn) được xây dựng từ đời Trần Thái Tông. Thần tích của làng cho biết chùa này do tổ phụ của Chu Văn Lương làm để tọa tĩnh, dạy học và chữa bệnh.

Chùa được xây tường kiên cố bao toàn khu vực. Kiến trúc rất quy mô:

+ Gian bên phải thờ thần ANa (?) có tượng hầu mặt xanh mắt lồi.

+ Gian bên trái có tượng Đức Ông (?) và tượng Nam tào, Bắc đẩu.

+ Hậu cung có 5 bệ:

              - Bệ thờ Phật tam thế.

           - Bệ thờ Quan thế âm bồ tát và tượng Đại thế chí. Bức đại tự:   

           “Mật đa tự” đặt ở bệ này.

           - Bệ thờ Thiên phủ Thiên mãn và Kim đồng Ngọc nữ.

           - Bệ thờ Thích Ca mầu ni và 2 tượng Địa tang ngồi.

+ Tiền đường rộng đến 5 gian.

- Chùa Đại Bi, còn gọi là chùa Mật (làng Mật Sơn, phường Đông Vệ). Tượng Lê Thần Tông và 5 bà phi (có bà phi là người nước ngoài) đã được đưa về đền Lê nay gọi là Thái miếu (Bố Vệ- Cầu Bố).

- Chùa Thiên Tiên Linh Từ (phường Điện Biên)

- Chùa Đèo Viên (Chùa Hội Đồng), Chùa Thanh Lâm phường Ba Đình (hai chùa này nay không còn).

* THỊ XÃ BỈM SƠN

- Chùa Trạch Lâm (phường Quang Trung), do công chúa Ngọc Tú đời Nguyễn dựng. Sau Tổng đốc Thanh Hóa là Tôn Thất Tĩnh sửa lại. Bia cũ bị rêu mờ không rõ năm tháng chỉ còn di tượng Ngọc Tú.

* HUYỆN CẨM THỦY

- Chùa trên núi Diệu Sơn, nơi có động khắc thơ của Trịnh Sâm. Dân gọi là chùa Mầu.

- Chùa Trặng (Ngọc Châu tự) thuộc xã Cẩm Sơn, được lập từ đời Hậu Lê, nay đang còn thờ tự.

* HUYỆN ĐÔNG SƠN

- Chùa Báo Ân gần  núi An Hoạch (xã Đông Tân), xây dựng khoảng 1099 - 1100. Có văn bia về Lý Thường Kiệt, và nguồn đá quí ở núi Nhồi.

* HUYỆN HÀ TRUNG

- Chùa Kim Âu, cách chùa Hoa Long khoảng 5km là nơi vua Trần Dụ Tông đã đến tu. Lê Thánh Tông có đề thơ. Sau này Hồ Quí Ly cho xây dựng thành Ly Cung.

- Chùa Nguyên Hải, do Nguyễn Hòa dựng (thế kỷ XVII).

- Chùa Long Cảm (xã Hà Phong), xây dựng từ thời Lý.

- Chùa Đan Phúc (xã Hà Bình).

- Chùa Linh Xứng, do Lý Thường Kiệt xây dưới chân núi Ngưỡng Sơn (xã Hà Ngọc). Chùa có tháp Chiêu Ân 9 tầng. Có văn bia ghi công trạng của Lý Thường Kiệt.

* HUYỆN HẬU LỘC

- Chùa Sùng Nghiêm, chính tên là Sùng Nghiêm Diên Thánh, ở thôn Duy Tinh (xã Văn Lộc) nên cũng gọi là chùa Duy Tinh, xây dựng thời Lý. Chùa có văn bia nổi tiếng, có cảnh quan đẹp, có hồ bán nguyệt, vườn hoa, ao sen. Có nhiều pho tượng rất cổ kính trong đó có 3 vị Tam thế cao to ngồi bỏ tay xuôi với tư thế khác nhau, 3 vị tượng trưng cho quá khứ - hiện tại - vị lai. Đặc biệt 3 pho tượng này được đặt trên tòa sen, 3 bệ đá hình bát giác 5 bậc nhỏ dần từ dưới lên trên, bậc cuối cùng có hình hoa vân sóng nước, trên nữa có hổ phù, bệ đá cao liền một khối trạm trổ công phu. Theo đánh giá của Viện Mỹ thuật thì 3 bệ đá này tương tự như bệ đá chùa Thầy (Hà Tây) nhưng được trạm trổ kỹ lưỡng hơn ở các làn sóng dưới chân, 3 bệ đá thời Lý còn tồn tại đến ngày nay.

* HUYỆN HOẰNG HÓA

- Chùa Gia (chùa Vĩnh Phúc - xã Hoằng Phượng)

- Chùa Thiên Nhiên (chùa Nhờn - xã Hoằng Lộc).

- Chùa Cổ Hoằng (xã Hoằng Yến)

- Chùa Hối Long (xã Hoằng Thanh)

- Chùa Hoàng Môn (xã Hoằng Đạt)

- Chùa Thiên Vương (xã Hoằng Đạo)

- Chùa Giáp Hoa (xã Hoằng Long)

- Nghè Nguyệt Viên (xã Hoằng Quang), kiến trúc cổ thời Mạc.

- Nghè An Phú (xã Hoằng Hợp)

* HUYỆN QUẢNG XƯƠNG

- Chùa Hưng Phúc (xã Quảng Hùng), có bia gọi là Hưng Phúc tự bi minh, ghi lại cuộc chống giặc Nguyên của Hương Yên Duyên (tên cũ của xã Quảng Hùng). Tấm bia này rất có giá trị về lịch sử.

- Chùa Mậu Xương (xã Quảng Lưu)  có An Đông phật tổ Trần Ngọc Lành.

- Chùa Mun - Vạn Linh tự (xã Quảng Văn).

* HUYỆN THIỆU HÓA

- Chùa Hương Nghiêm, ở giáp Bối Lý (xã Thiệu Trung), là ngôi chùa được xây dựng từ thời Tiền Lê. Có văn bia Càn Ni Hương Nghiêm tự bi minh khắc năm Thiên phù duệ vũ thứ 15 (1124).

- Chùa Thái Bình, trên núi Bằng Trình (xã Thiệu Hợp). Chúa Trịnh Sâm có làm thơ về chùa này, nhưng nay không còn dấu tích.

- Chùa Đại Hùng, còn gọi là chùa Vồm, ở chân núi Bàn A Sơn, làng Đại Khánh (xã Thiệu Khánh). Chùa Vồm lấy tên một nhân vật huyền thoại, đánh nhau với ông Bưng bị thua, trốn vào bụi, bị ông Bưng búng chết, hóa thành núi Vồm.

Chùa có tượng Phật A Di Đà, cao 6m. Hội chùa Vồm mở từ mồng 10 đến 15 tháng giêng âm lịch. Trên các vách đá Bàn A Sơn, còn có thơ của Lê Hiến Tông, Bùi Văn Dị ca ngợi cảnh chùa Vồm. Làng Đại Khánh có nghề làm nồi đất, và cũng được xem là đất 19 quận công.

* HUYỆN YÊN ĐỊNH

- Chùa Tràng Lang (xã Định Tiến) nơi thờ Phật và thờ Đào Cam Mộc, người có công đưa Lý Công Uẩn lên ngôi vua.

* HUYỆN VĨNH LỘC

- Chùa Hoa Long (xã Vĩnh Thịnh). Chùa xây dựng thời Trần. Đặc biệt là chùa có bệ đá tam thế có hoa văn vũ nữ múa dâng hoa. Chỉ ở chùa này mới có nghệ thuật trang trí này trong kiến trúc Phật giáo.

- Chùa Giáng xã Vĩnh Thành.

- Chùa Du Anh, dưới chân núi Xuân Đài, có tượng sư tử đá nổi tiếng. Đây là di tích xây dựng thời Trần còn gọi là chùa Thông.

* HUYỆN QUAN HÓA

- Chùa Bà (Hồi Xuân).

- Đền thờ và bia Lò Khăm Ban (Hồi Xuân).

* HUYỆN NGA SƠN

- Chùa Tiên (xã Nga An)

* HUYỆN TRIỆU SƠN

- Phủ Nưa (xã Tân Ninh).

*HUYỆN THỌ XUÂN

- Chùa Xuân Thiên (xã Xuân Thiên).

- Chùa Tậu (Hồi Tông tự - xã Xuân trường)

 

2. Đền miếu - nhà thờ

* THÀNH PHỐ THANH HÓA

- Đền Lê Thành (làng Định Hoà) xã Đông Cương.

- Thái Miếu nhà Lê (làng Bố Vệ) phường Đông Vệ.

- Đền Thánh Cả (làng Đông Sơn) phường Hàm Rồng.

- Nhà thờ Thiên chúa giáo (phường Trường Thi).

- Đền Trần Hưng Đạo (làng Phú Cốc).

- Đền Tống Duy Tân (làng Phú Cốc).

- Đền Chu Nguyên Lương (phường Nam Ngạn).

* THỊ XÃ SẦM SƠN

- Đền Cô Tiên

- Đền Độc Cước

- Đền Đệ Tam thờ Hoàng Minh Tự (thành hoàng làng Núi)

- Đền Đệ Nhị, thờ Tô Hiến Thành.

- Đền Bà Triều (tổ sư nghề dệt súc, dệt xăm), làng Triều Dương

- Đền Đô đốc Nguyễn Sĩ Dũng thời Quang Trung (làng Lộc Trung)

- Đền thờ Đề Lĩnh (tổ sư nghề vật), làng Lương Trung

* THỊ XÃ BỈM SƠN

- Đền Sòng: Đền Giếng (thờ Liễu Hạnh).

- Đình làng Cẩm La, thờ Từ Thức (phường Quang Trung)

- Đền thờ Đặng Quang (phường Quang Trung) 

* HUYỆN BÁ THƯỚC

- Đền thờ và bia mộ Hà Công Thái (chùa Mèo) xã Điền Lư.

* HUYỆN ĐÔNG SƠN

- Đền Nguyễn Nghi (xã Đông Thanh).

- Đền Nguyễn Khải (xã Đông Thanh).

- Đền Nguyễn Chích (xã Đông Ninh).

- Đền Lê Hy (xã Đông Khê).

- Đền Thiều Thốn (xã Đông Tiến).

- Đền Nguyễn Nhữ Soạn (xã Đông Yên).

- Đền Quốc công Lê Giám (xã Đông Ninh).

- Đền Đàm Lê (xã Đông Lĩnh)

- Đền Trịnh Khắc Phục (xã Đông Ninh)

* HUYỆN HÀ TRUNG

- Đền Lê Phụng Hiểu ở động Chiếu Bạch.

- Khu lăng miếu Triệu Tường (xã Hà Long)

- Đình làng Gia Miêu (xã Hà Long)

- Đền Lý Thường Kiệt (xã Hà Ngọc).

- Ly cung (cung Bảo Thanh) xã Hà Đông.

- Đền Hàn (xã Hà Sơn).

- Đền Đức Tôn (xã Hà Long).

- Đền Cây Thị (có hang Chum vàng - xã Hà Ngọc).

- Đền thờ Lê Thọ Vực (xã Hà Sơn).

- Đình Đồng Bồng (xã Hà Tiến) là đình nổi tiếng ở Hà Trung.

- Đền thờ Trần Hưng Đạo (xã Hà Dương).

* HUYỆN THIỆU HÓA

- Đình Ngô Xá Hạ (xã Thiệu Minh), nơi tập trung Cứu quốc quân kéo về tỉnh lỵ Thanh Hóa ra mắt đồng bào ngày 23 - 8 - 1945, của Uỷ ban Nhân dân Cách mạng lâm thời tỉnh Thanh Hóa.

- Đền thờ Lê Văn Hưu (xã Thiệu Trưng)

- Đền thờ Đinh Lễ (xã Thiệu Hưng)

- Đền thờ Nguyễn Quán Nho (xã Thiệu Hưng)

- Đền thờ Dương Đình Nghệ (xã Thiệu Dương)

- Đền Trà Đông (xã Thiệu Trung)

* HUYỆN HẬU LỘC

- Đền và lăng Bà Triệu (xã Triệu Lộc).

- Đền Hoa quận công Đỗ Danh Khanh (xã Thuần Lộc).

- Nhà thờ Á trạng Phạm Thanh (xã Hoà Lộc).

- Nhà thờ Phạm Bình (xã Hoà Lộc).

- Đình Lục Trúc (xã Phú Lộc), Đình có kiến trúc cổ và tương đối cơ ngơi. Từ ngôi đình này, Hoàng Bật Đạt đã khởi quân và tế cờ Cần Vương.

* HUYỆN HOẰNG HÓA

- Bảng môn đình (xã Hoằng Lộc).

- Đình Liên Châu và đình Hoàng Chung (xã Hoằng Châu)

- Đình làng Thượng Thôn và đình làng Trụ Thôn (xã Hoằng Lý)

- Đình Đông Khê (xã Hoằng Quỳ)

- Đình Phú Khê (xã Hoằng Phú).

- Đình Phượng Mao (xã Hoằng Phượng)

- Đền Thánh Tến thờ Lê Phụng Hiểu (xã Hoằng Quỳ).

- Đền Lê Phụng Hiểu (xã Hoằng Sơn)

- Đền Triệu Quang Phục (xã Hoằng Trung).

- Đền Tô Hiến Thành (xã Hoằng Phượng)

- Nhà thờ Nguyễn Quỳnh (xã Hoằng Lộc).

- Đền Bà Quốc mẫu (xã Hoằng Xuân)

- Nhà thờ Lương Đắc Bằng (xã Hoằng Phong).

- Đền Hà Lộ (xã Hoằng Tiến).

- Nhà thờ Nguyễn Phan (xã Hoằng Đạt)

- Đền Đồng Cổ (xã Hoằng Minh)

- Nhà thờ Nguyễn Đình Giản (xã Hoằng Quang)

- Đền thờ Cao Lỗ (xã Hoằng Giang)

- Từ đường dòng họ Lê Duy (xã Hoằng Phú)

- Nhà thờ Bùi Khắc Nhất (xã Hoằng Lộc)

- Đình làng Trung Hòa (xã Hoằng Trung)

- Đình làng Xa Vệ (xã Hoằng Trung)

* HUYỆN LANG CHÁNH

- Đền Chèng Khẹt (xã Đồng Lương)

* HUYỆN MƯỜNG LÁT

- Đền Tư Mã ( xã Tén Tần).

* HUYỆN NÔNG CỐNG

- Đền Bà thờ Bà Triệu (xã Tế Thắng)

- Đền Ôi, thờ Trần Khát Chân (xã Tế Thắng)

- Đền Vua Bà, thờ Tam giang Thần mẫu (xã Tế Tân)

- Đền Mối, thờ Trần Khát Chân (xã Trung Thành).

- Nhà thờ Đinh Liệt (xã Trung Chính)

- Nhà thờ Vũ Uy (xã Tân Phúc).

- Nhà thờ Đỗ Bí (xã Minh Nghĩa).

- Đền Tham Xung Tá Quốc (xã Trung Thành)

- Đền Lê Hiểm (xã Tân Phúc)

- Nhà thờ họ Lê Sĩ (xã Hoàng Giang)

- Nhà thờ họ Lê Đình Túc (xã Trung Ý)

- Đền thờ Ngô Xuân Quỳnh (xã Trường Giang)

* HUYỆN NGA SƠN

- Đền vua Hùng thứ 11 (xã Nga Thắng).

- Đền Mai An Tiêm (xã Nga An).

- Đền Lê Thị Hoa (xã Nga Thiện).

- Đền Trịnh Minh (xã Nga Thiện).

- Đền Từ Thức (xã Nga Thiện).

- Đền thờ Áp lãng chân nhân (xã Nga Giáp).

- Đền Triệu Quang Phục (xã Nga Thanh).

- Đền Trần Hưng Đạo (xã Nga Thủy).

- Đền Mai Thị Ngọc Tiến (xã Nga Thủy).

- Đền Nguyệt Nga Hoàng phi (xã Nga Bạch).

- Đền Bạch Tượng (Bạch Tượng tự - xã Nga Giáp)

* HUYỆN NHƯ THANH

- Phủ Sung (xã Hải Vân)

- Phủ Na (xã Xuân Du)

* HUYỆN NGỌC LẶC

- Đền Lê Thái Tổ (làng Như Áng). Đền còn giữ được 15 đạo sắc.

- Đền Tép, thờ Lê Lai (xã Kiên Thọ).

* HUYỆN QUẢNG XƯƠNG

- Phủ Voi (xã Quảng Thịnh)

- Đền An Dương Vương, có tượng Mỵ Châu cụt đầu (xã Quảng Châu).

- Đền Bùi Sĩ Lâm (xã Quảng Tân).

- Đền Lê Bá Trí (xã Quảng Tân).

- Đền Chiêu Văn Vương Trần Nhật Duật (xã Quảng Hợp).

- Nhà thờ Hoàng Bùi  Hoàn (xã Quảng Trạch).

* HUYỆN TĨNH GIA

- Đền thờ Đào Duy Từ (xã Nguyên Bình)

- Đền Quang Trung (xã Hải Thanh).

- Nhà thờ Thiên chúa giáo Ba làng.

- Chùa Đót Tiên (xã Hải Thanh)

- Đền Thanh Xuyên (xã Hải Thanh)

- Đền Lạch Bạng (ở cửa Lạch) thờ Tứ vị thánh nương (xã Hải Thanh)./.

 

(Ban Biên tập - Sưu tầm và biên soạn)